Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
TÂN PHÁP CAO ĐÀI
1 Tổng quan
2 Ý nghĩa Tân Pháp Cao Đài
2.1 Chính Đức Thượng Đế mở TânPháp Cao Đài
2.2 Chọn dân tộc Việt Nam để ban Tân Pháp Cao Đài
2.3 Tân Pháp Cao Đài giải tỏa lớp vô minh, mở con đường tiến hóa
2.4 Tân Pháp Cao Đài dụng thế thiên nhơn hợp nhất
2.5 Tân Pháp Cao Đài con đường quy Tam giáo hợp Ngũ chi
3 Phápmôn Tân Pháp Cao Đài
3.1 Tân Pháp Cao Đài là pháp môn Đại ân xá
3.2 Tân Pháp Cao Đài là pháp môn Tam Công
4 Kết luận
-
Long Thụ /
Động cơ trung tâm cho việc hoá độ của Long Thụ – một công trình hoằng pháp lập cơ sở cho Trung quán tông sau này cũng như lưu lại nhiều tác phẩm triết học Phật giáo – chính là việc khôi phục giáo lí của đức Phật.
-
Trong các trích đoan thánh giáo trên, cho thấy Ơn Trên dạy rõ “ BÍ PHÁP là gì,” nhưng đồng thời cũng dạy về “ Pháp môn công phu thiền định” tức là đạo pháp. Thiển nghĩ sự “ ban trao bí pháp và tiếp nhận bí pháp” hàm ý bí pháp gồm chủ thể và đối tượng tương liên bằng một động tái kín nhiệm tại tâm. Các đối tượng phải tự tạo điều kiện “ tịnh khiết” thân tâm để nhận được “ bí pháp” : “Con người biết giữ được mực độ quân bình cho chính bản thân là tâm linh phải lo trau luyện cho thanh thoát, đừng để thất tình lục dục bao vây.( Đối tượng ”trau luyện” phải chăng thực hành đạo pháp hay pháp môn)
Vậy toàn bộ những gì thuộc về cơ cứu độ Kỳ Ba, Bí pháp hay Đạo pháp đều nằm trong Chánh pháp Đại Đạo. TH.CH.
-
Nguyên lý của thiên đạo giải thoát
Bài thuyết minh giáo lý nội bộ tại Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo, 09-05-2009 (15-04 Kỷ Sửu)
-
Các đây khoảng 5 năm, chúng tôi từng có duyên lành với lễ Giáng Sinh đồng thời là lễ Kỷ niệm thành lập Thánh Thất Bàu Sen, được mời nói chyện đề tài “ Từ máng cỏ đến Thánh giá”
Thưa Quý vị, máng cỏ là biểu trưng sự sinh ra của Jesus, và Thánh giá chỉ sự hy sinh của Đức Giê Su, chịu chết trên Thánh giá để “ Cứu chuộc” tội lỗi cho loài người.
Hôm nay, một lần nữa, được hầu chuyện với quý đồng đạo, nhất là với sự hiện diện của quý con tin của Đức Giê-Su, qúy đại biểu các Cơ quan chức năng, Ban Cai Quản và toàn thể chư đạo hữu, một mùa GS bình an, an khang thịnh vượng.
Đề tài hôm nay, như đã được giới thiệu, là “ Nghĩ về Đấng Cứu chuộc” hay đúng hơn là “ Từ Cứu chuộc đến Cứu độ”.
-
THẦN TIÊN THI DIỆU BÚT (20 )
Kỳ này, chúng ta hãy thưởng thức sự phối hợp thi thơ giữa Đức Chí Tôn và Đức Lý Giáo Tông qua một hình thức khá độc đáo: Chiết thi bài, câu thất bỏ một, câu bát bỏ hai đọc xuống ! Đàn cơ cách nay đúng 40 năm. (qua bài thơ chiết được, chúng ta cũng thấy cách gọi tuổi năm đạo)
-
Những nỗi niềm nhân sinh mang ý nghĩa tríết học xuất phát từ sự phản tỉnh của tâm thức khao khát tìm kiếm lẽ thật của đời người đã dẫn dắt con người đi đến cảm nhận sâu sắc về nỗi cô đơn cũng như những bi kịch tất yếu của kiếp người để chấp nhận nó và hóa giải nó một cách “tùy duyên” bằng cái tâm trong sáng và an định. Mặt khác, những nỗi niềm nhân sinh mang ý nghĩa xã hội xuất phát từ sự phản tỉnh của tấm lòng lo đời thương dân đã mang đến cho con người trong thơ vẻ đẹp của sự quên mình và tận tụy. Nét đẹp nhân văn ấy phải chăng đã góp phần không nhỏ khẳng định nhân cách lớn lao của con người thời Đông A cũng như dấu ấn khó phai của một thời đại thơ ca một đi không trở lại.
-
Danh từ "Khai Minh Đại Đạo" đã được Ơn Trên sử dụng từ lâu. Cụm từ này, có thể lần đầu tiên được xuất hiện vào năm 1929 trong câu cuối bài kinh dâng trà của Hội Thánh Tây Ninh:
"Khai Minh Đại Đạo hộ thanh bường"
-
Kinh Hòa Bình:Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người
Thánh giáo:Thượng Đế không bảo chúng sinh làm những gì đem đến ích lợi riêng tư cho Thượng Đế và các Đấng Trọn Lành, chỉ dạy bảo chúng sanh phải làm mọi việc thích hợp đạo lý để phục vụ nhơn sanh hầu tạo cõi đời an lạc thái hòa, trong đó có đạo đức tình thương giữa con người và con người đối xử với nhau cho phải đạo để giúp cơ bảo tồn vạn loại cho hợp với đức háo sanh của Thượng Đế mà thôi.
-
Đời là một trường tiến hoá, người là một thí sinh, nhập môn là vịn thang, nhập tịnh là leo thang. Chúng ta là một lữ khách ở địa cầu này. Du khách muốn đi luôn hay trở về quê?
-
Không thầy đố mày làm nên,
Công danh gặp bước chớ quên ơn thầy.
Yêu kính thầy mới làm thầy,
Những phường bội bạc sau này ra chi.
-
Chúng ta đều nhìn nhận rằng con người đã và đang tiến hóa, kể từ thuở là con người tinh khôn (homo sapiens) của Đệ Tứ Nguyên Đại. Cuộc tiến hóa ấy có định hướng chăng? Nếu có, ta khoan nói về cái viễn đích (telefinal) xa xôi ấy, mà hãy tạm nhận thấy về cơ bản đó là con vật, một con vật thượng đẳng biết tư duy mà người Đông Phương chúng ta mệnh danh là «linh ư vạn vật». Con vật ấy có tính xã hội, và vì vậy trong cuộc cộng sinh, con vật ấy đã biết thích ứng với nhau, biết chế ngự bản năng cầm thú, để được tiến hóa thành con người văn minh hiện nay. Thế nhưng con người thực sự đã thuần hóa được cái con thú man rợ luôn chực nhe răng gầm gừ trong cõi lòng mình không?
