Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Đề tài: Phương pháp vô tư tự kiểm để tinh tiến
Minh Lý Thánh Hội - Tuất thời 16 tháng 6 Canh Tuất (18.07.70)
-
I. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ
II. ĐƯỜNG LỐI và CHỨC NĂNG HÀNH ĐẠO CỦA CƠ QUAN
III. MỤC ĐÍCH CƠ QUAN (trích Chương III –điểu 3 / Bản Qui Điều Cơ Quan)
IV. HỌAT ĐỘNG CƠ QUAN (trích Chương IV-điều 4 / Bản Qui Điều Cơ Quan)
V. TỔNG QUÁT VỀ SỨ MẠNG CQPTGLĐĐ
VI. KẾT LUẬN
-
Người đời thường nói: "tạo tự thì dễ, tạo tăng (con người) mới khó". Nói như thế không có nghĩa là quên đi hai yếu tố Thiên và Địa. Vì thời Tam Kỳ Phổ Độ, Thầy cùng các Đấng thiêng liêng (Thiên) dùng huyền cơ diệu bút đem nguồn giáo lý tinh ba đến gieo giống trên mãnh đất Trời Nam - Địa linh sanh anh kiệt (Địa), còn lại yếu tố Nhơn là điều con người phải chuẩn bị, phải giải quyết để thực hiện được mục đích của Đại Đạo TKPĐ là Thế đạo đại đồng, Thiên đạo giải thoát.
Ngày 13-10-1926 (mùng 7-9 Bính Dần) tờ Phổ Cáo Chúng Sanh đã được Đức Chí Tôn chính thức phê duyệt, đó là phương tiện vô cùng qúy báu hổ trợ chư vị tiền khai tuân hành thánh ý thực hiện việc phổ truyền nền giáo lý tân Tôn Giáo Cao Đài khắp lục Tỉnh. Chỉ trong vòng 1 tháng thực hiện phổ độ khắp Lục Tỉnh với Phổ cáo Chúng Sanh, số lượng tín đồ nhập môn đã từ con số chưa đến 300 tăng vọt lên đến mấy ngàn tín hữu. Đây cũng là yếu tố quan trọng đóng góp cho sự thành công của Đại lễ Khai Minh Đại Đạo tại Thiền Lâm Tự Gò Kén - Tây Ninh.
-
CÁC VĂN KIỆN “LUẬT ĐẠO”căn bản áp dụng cho Cơ Quan khi thành lập CQ:
-Quy Điều Cơ Quan (Thánh dụ Quy điều) tương đương với “Pháp lệnh” hành đạo (hay Hiến pháp) (1966)
-Quy Chế Cơ Quan: tương đương với “Hiến Chương” hành đạo áp dụng cho từng nhiệm kỳ 5 năm có thể được bổ sung hoặc tu chỉnh mỗi kỳ Đại hội.
-
Sau đây, chúng tôi sẽ có những lời giải thích về mục đích của tôi khi thành lập Thiền viện Chân Không. Tất cả Tăng, Ni và Phật tử, những người đã có mặt lúc trước, chắc không còn lạ gì với Thiền viện Chân Không. Nhưng những người mới đến hoặc là mới học thì chưa biết rõ. Giờ đây tôi nói lên mục đích của tôi khi thành lập Thiền viện này như thế nào.
-
Quan điểm
MỖI NGƯỜI CHÚNG TA ĐÓNG GÓP ĐƯỢC GÌ CHO NHÂN LOẠI?
Một nhà tư vấn chính sách , Simon Anholt, mới đây đã thực hiện một bảng thống kê gọi là “Good Country Index” (1) để đánh giá khả năng đóng góp cho nhân loại dựa theo thông tin của Liên Hiệp Quốc và World Bank. “Good Country Index” phân tích đóng góp của 125 nước trên các mặt khoa học công nghệ, văn hóa, hòa bình và an ninh quốc tế, trật tự thế giới, khí hậu, thịnh vượng, bình đẳng, sức khỏe. . .
Điều chúng ta lưu ý ở đây, bản thống kê đã cảnh báo là Việt Nam là nước có mức “đóng góp cho nhân loại” được xếp hạng áp chót, chỉ trên Libya (tức 124/125).
Đánh giá nêu trên, trước khi nêu lên những lý do khách quan này khác, khiến mỗi người Việt Nam chúng ta sẽ tự hỏi, cá nhân mình và dân tộc mình có thể đóng góp được gì cho nhân loại, hay vì ta không hề đóng góp nên có kết quả như thế?
-
TÂM KINH BÁT NHÃ
Quán-tự-tại Bồ-tát, hành thâm Bát-nhã Ba-la mật-đa thời chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Xá-Lợi-Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.
Xá-Lợi-Tử! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới, vô vô-minh diệc, vô vô-minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.
-
VŨ TRỤ QUAN
Có thể nói Vũ Trụ Quan Cao Ðài bao hàm hai khái niệm quan trọng là:
-Cơ nguyên biến sanh vũ trụ.
-Qui luật tiến hóa tâm linh.
-
Tư tưởng Đạo gia 道家思想 ● Lê Anh Minh dịch
16. HỌA PHÚC 禍 福 – SINH TỬ 生 死
345. Họa hề phúc chi sở ỷ. Phúc hề họa chi sở phục. Thục tri kỳ cực. Kỳ vô chính. Chính phục vi kỳ, thiên phục vi yêu. Nhân chi mê, kỳ nhật cố cửu. Thị dĩ thánh nhân, phương nhi bất cát, liêm nhi bất quế, trực nhi bất tứ, quang nhi bất diệu. [Đạo Đức Kinh, chương 58]
禍兮,福之所倚,福兮,禍之所伏。孰知其極?其無正。正復為奇,善復為
。人之迷,其日固久!是以聖人方而不割,廉而不劌,直而不肆,光而不
。《道德經 • 第五十八章》
【Dịch】Họa là chỗ dựa của phúc; phúc là chỗ dựa của họa. Nào ai biết đâu là điểm cực hạn? Không có sự công chính sao? Công chính rồi lại thành gian tà; thiện rồi trở thành ác. Con người u mê đã quá lâu rồi! Cho nên thánh nhân tuy vuông vức mà không hại ai, tuy góc cạnh mà không tổn thương ai, tuy ngay thẳng nhưng không khắc nghiệt với ai, tuy sáng rỡ nhưng không chói lòa mắt ai.
-
Bài nói chuyện tại Hội trường Thuyết minh giáo lý Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo
ngày Rằm tháng 10 Canh Dần (20-11-2010).
Song song với lịch sử nhân loại, các tôn giáo lần lượt ra đời trên khắp thế giới do tín ngưỡng tự nhiên và đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người. Đối diện cuộc sống thực tế của thế gian trong những thời kỳ đen tối do chiến họa, thiên tai, thù hận, gây ra thống khổ cho nhân sanh, các bậc Giáo chủ động lòng từ bi, lập nên các giáo thuyết, truyền bá đạo lý hầu phục hồi lương tâm con người và chấn chỉnh kỹ cương xã hội.
Trước bao nhiêu nguy cơ đe dọa đời sống, con người đón nhận các tôn giáo như cứu tinh và suy tôn các Giáo chủ là Đấng cứu thế. Đó là lẽ đương nhiên, cũng là cơ hội để các tôn giáo cứu đời.
Tuy nhiên, với mặc cảm tội lỗi và tự ti trước thần quyền, người đời trở nên thụ động, tiêu cực, mãi lo cầu xin cứu độ mà vô tình đánh mất bản vị cao quí của mình trong trời đất. Thế nên, người tín hữu bình thường sẽ lẩn quẩn trong cái đạo nhất thời, không ý thức cái Đạo vĩnh cửu là con đường tiến hóa miên viễn của chúng sanh.
-
Không gian và thời gian trong vũ trụ
Thiện Quang
Bài thuyết minh giáo lý nội bộ
tại Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo, 01-05 Đinh Hợi (15-06-2007
_________
Khi nhìn những bức ảnh chụp các phi hành gia đi bộ trong khoảng không vũ trụ (space walk), chúng ta có một ý niệm rất cụ thể về con người trong không gian và thời gian. Ý niệm đó được Đạo học chỉ nam diễn đạt như sau:
"Trong suốt đời người, không thể tách rời ngoài vũ trụ thực tại. Trời Đất Kiền Khôn bao trùm lấy con người, xoay chuyển trong thời gian, không gian hằng hữu."[1]
[1] Đạo học chỉ nam, chương 4, tiết 2, mục 2.
-
Từ thế kỷ I, I I, ba nền tôn giáo Nho, Thích, Lão đã sớm được nhân dân Việt Nam tiếp nhận và dung nạp.
