Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Mùa Trung Nguơn tháng 7 năm Quý Tỵ 1953, tại Thánh tịnh Tam Thanh – Cao Minh Quang ở Long An, Ơn Trên dạy thực hiện ba ngày đại lễ cầu siêu Chơn Giác Đồng Đăng Thiên Hoa Đài Vị từ ngày rằm cho đến giờ Ngọ ngày 17.
Vào ngày Rằm Trung Nguơn tháng 7, một nghi thức vớt vong đã được thực hiện với một chiếc ghe lớn được chèo từ Thánh tịnh ra sông Vàm Cỏ rồi trở lại. Trên ghe, một bàn hương án được thiết kế với bài vị "Cô hồn uổng tử" và lễ phẩm đầy đủ, các chức sắc chức việc cùng ban lễ thực hiện nghi thức "dẫn vong" về nơi đại hội Đồng Đăng Chơn Giác.
Theo sắc lệnh đã tiếp nhận, vào 9 giờ đêm hôm sau, 5 ban cơ đã được thiết lập trong cùng một lúc để đón nhận sự ban ơn của Thiêng Liêng.
-
Nhân tiết Trung Thu, chúng ta hãy thưởng thức nội dung đạo lý từ lời dạy của Đức Mẹ Diêu Trì Kim Mẫu cùng hình thức chiết ra bài Thi Khoán Thủ từ bài Phú (chứ không phải từ Thi Bài như bấy lâu nay).
-
Tam giáo Việt Nam đã có một lịch sử lâu dài, kể từ thế kỷ I, II trở đi, cho nên dễ hiểu vì sao Tam giáo đã có ảnh hưởng sâu sắc không phải chỉ trong tầng lớp trí thức giỏi chữ Hán mà còn gieo được tư tưởng đạo đức trong quần chúng bình dân không biết chữ Hán. Văn học dân gian (hay văn chương truyền khẩu) qua các loại hình cổ tích, dân ca, ca dao, tục ngữ... là những bằng chứng rõ ràng cho thấy dấu ấn Tam giáo trong văn hóa đạo đức của dân tộc Việt. Các vị tiên, phật luôn luôn có mặt trong các câu chuyện cổ tích khuyến thiện để giáo dục con người tu nhân tích đức, làm lành lánh dữ.
-
Đề tài : Tham thiền để nghiêm khắc phán xét bản thân
M LTH, Tuất thời Mùng 2 Thánh 4 Kỷ Dậu (17/5/1969 )
-
Bài Tổng luận trích quyển "TÌM HIỂU TÔN GIÁO CAO ĐÀI" do CQPTGL xuất bản năm 2009, tái bản 2013
-
THÁI hoà xuân khởi Phục[1] và Lâm,
THƯỢNG trí[2] gieo trồng khắp cõi tâm;
LÃO noãn non già theo đúng độ,
QUÂN bình trong đạo mới huyền thâm.
[1]Quẻ Địa lôi phục= tiết đông chí (nhất dương) Quẻ Địa trạch lâm (nhị dương) rồi kế tam dương là Địa thiên thái.
[2]Thượng trí là bậc "cần nhi hành chi".
-
Lễ sanh /
“Lễ Sanh là người có hạnh, lựa chọn trong chư môn đệ mà hành lễ. Chúng nó đặng quyền đi khai đàn cho mỗi tín đồ. Thầy dặn các con hiểu rõ rằng Lễ Sanh là người Thầy yêu mến, chẳng nên hiếp đáp chúng nó. Như vào đặng hàng Lễ Sanh mới mong bước qua hàng chức sắc. Kỳ dư Thầy phong thưởng riêng mới đi khỏi ngã ấy mà thôi…nghe à! Chư môn đệ tuân mạng.” ( Pháp chánh truyền)
-
Vĩnh là vĩnh cửu, bất biến. Nguyên là nguyên bổn, hằng hữu hằng thường. Chỉ có cái nguyên bổn mới hằng hữu hằng thường bất di bất biến. Vạn hữu do từ hằng hữu mà sanh. Vô thường do từ hằng thường mà có.
Con người là một cá thể trong vạn hữu. Người có biết tu chơn ngộ Đạo mới có thể trở về nguyên bổn hằng hữu hằng thường bất di bất biến trong cảnh giới vĩnh cửu hư linh.
-
Nhiều người cho rằng Thiền Tông khác với Tịnh Độ Tông , vì một bên chú trọng vào tự lực, một bên trông vào tha lực; nhưng có người lại nói rằng Thiền và Tịnh vốn chẳng khác nhau (?).
-
Khi nhập môn vào Cao Đài, ai ai cũng thuộc câu thánh giáo:
Tu là sửa những gì đã trật,
Hay
Tu mà không học tu mù.
Hoặc
Học mà không tu như đọc thuộc lòng một bản thực đơn mà không thực phẩm; còn tu mà không học ví như người mù đi đêm. Học tu, tu học phải đi đôi. Của Đức Lý Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Ngọc Chiếu Đàn, Ngọ thời, mùng 5 tháng Giêng Ất Tỵ (06.02.1965)
Lời dạy trên rất gần gủi và thiết thực đối với người tín đồ Cao Đài, phát xuất từ tinh thần của câu Học Nhi Thời Tập Chi của Đức Khổng Tử ghi trong trong Luận Ngữ của Nho giáo.
Học Nhi Thời Tập Chi nghe qua rất đơn giản, nhưng là một trong những tư tưởng trụ cột, tư tưởng nền tảng Nho giáo, phát xuất từ một nhà hiền triết, một bậc trí tuệ của nhân loại, cộng thêm với một tấm lòng ưu tư trước cảnh lầm than đau khổ của trăm họ, suốt cuộc đời tha thiết tìm người thực hành học thuyết của mình, nhằm mưu cầu hạnh phúc cho con người.
Đức Khổng Tử trả lời khi được hỏi về chí nguyện của mình như sau:
“Ta muốn cho người già đều được an vui; bạn bè tin nhau; trẻ nhỏ được che chở đùm bọc.”
-
Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn - Om Mani Padme Hum là một câu thần chú tiếng Phạn, phiên âm ra tiếng Việt bằng nhiều câu sau đây:
• Án ma ni bát di hồng.
• Om ma ni bát mê hồng.
• Úm ma ni bát rị hồng,
được xem là thần chú quan trọng và lâu đời nhất của Phật giáo Tây Tạng để cầu nguyện Đức Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokiteshvara).
“Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn” : Chân ngôn sáng rõ bao gồm sáu chữ, trong đó, AUM (OM, ÁN, UM) là một tiếng thiêng liêng đã có từ 1.200 năm trước C.N, không chỉ trong Bà La Môn giáo (Ấn Độ giáo), Phật giáo, mà còn ở nhiều giáo phái khác, nên có hàng 100 ý nghĩa khác nhau:
AUM là tượng trưng cho năng lượng của vũ trụ, là sự sống vĩnh cửu, là định luật phổ biến, là ánh sáng hiện hữu khắp nơi, là nhịp điệu vũ trụ, là sức mạnh sáng tạo, là biểu hiện cụ thể của Chân Như, là tinh hoa con người và vạn hữu.v..v.
-
Nous avons tous une tête, un nez, une bouche, un nombril, deux yeux, deux bras, deux jambes, cinq doigts à chaque main, cinq orteils à chaque pied … Vous pouvez ainsi le constater, tout est Nombre, même pour ce qui nous touche intimement c’est à dire concernant notre propre corps.
Tout est Nombre c’est ce qu’enseigna déjà Pythagore il y a 25 siècles. Platon lui fit écho et les Sages d'Alexandrie transmirent cette connaissance à l'Occident chrétien. . . .
