Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Cách nay 19 năm, năm Bính Dần ( 1926) , Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế đã chính thức mở nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tại miền Nam Việt Nam có danh hiệu là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tên thường gọi là Đạo Cao Đài với tôn chỉ “Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chỉ Phục Nhứt” để tận độ vạn linh sanh chúng trong thời hạ ngươn mạt kiếp này.
-
Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là đại cuộc cứu độ nhân loại bằng chánh pháp Đại Đạo do Thượng Đế thiết lập vào thời kỳ hạ nguơn nầy.
Năm Bính Dần 1926, Đức Chí Tôn sáng lập đạo Cao Đài để khai minh Đại Đạo, tức là dùng một tôn giáo, ứng dụng những quy luật của vũ trụ hay thiên lý, thiên cơ, hầu phổ độ chúng sanh.
Thiên cơ là sự vận hành tuần hoàn của Đạo theo luật tuần hoàn "chu nhi phục thỉ" mà Tam kỳ phổ độ ứng với thời sau cùng của cuộc phục thỉ quy nguyên.
-
Thánh Thất Tân Định
Hợi thời rằm tháng 8 Bính Ngọ (29-9-1966)
Thi:
Thu về vui với cõi trần gian,
Nữ giới chen chưn đến Đạo tràng,
Giữa lúc nhơn sanh còn cộng nghiệp,
Lo tu để sớm giảm tai nàn.
KIM ĐỒNG NGỌC NỮ chào chư Thiên mạng, chào liệt vị lưỡng phái. Ngọc Nữ vâng lịnh báo đàn, có chư THÁNH NỮ và TIÊN NƯƠNG lai đàn hầu lễ. NGỌC NỮ chào chung chư liệt vị, xin xuất ngoại ứng hầu.
(Tiếp điển:)
-
Tôi không biết cuộc đời, hay đúng hơn là cõi người tốt xấu thế nào mà từ các vị giáo chủ, các nhà hiền triết đến giới văn nhân, thi sĩ… ai cũng chê tuốt luốt! Các ngài bảo đời là bể khổ, là trường tranh đấu, là chốn bụi trần, là cõi phù du, là cõi tạm, là … đủ thứ không mấy ai ưa! Đặc biệt hơn cả, có vị thẳng thừng từ chối kiếp người nếu có cơ hội làm lại từ đầu:
"Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo"
(Nguyễn Công Trứ)
-
Học Lão Tử Đạo Đức Kinh, ngoài giáo thuyết vô vi, chúng ta vẫn tìm thấy những bài học rất thực tiễn áp dụng cho đời sống an lạc giữa xã hội. Trong đó, có thể khái quát thành hai phương diện:
_ Sống đời bình dị
_ Sống đạo tự nhiên
-
Mới nhắm mắt bóng câu, hành giả đã vượt qua hết một chu kỳ ngắn ngủi, để ngắm lại hay lắng tai nghe sau trước, sau những bước chân hành giả có còn âm hướng vọng lại trên đường sứ mạng thiên ân hay như muôn vạn bóng mờ lại qua qua lại. Xuân nào cũng là một mùa xuân đem đến sự thay đổi, sự tiến hóa, sự thành công. Đối với hàng Thiên ân hướng Đạo, xuân khác ở chỗ bình dị thâm trầm nhưng không thiếu bổn phận vi nhân để lèo lái con thuyền cứu độ .
-
SOMMAIRE
Préface de la version française ............................. 6
Préface de la version vietnamienne ...................... 8
I Lexique ............................................................... 10
II Buts et Principes Directeurs ................................. 19
III Enseignement de Base .......................................... 24
IV Le Culte Caodaïque .............................................. 35
V Les Pratiques Religieuses ...................................... 48
VI Les Cinq Interdictions et
les Quatre Commandements ................................. 57
VII Conception de l’Univers et de l’Être humain ......... 72
VIII Le Paradis et l’Enfer ............................................. 77
IX Initiation à la Méditation ....................................... 82
X L’Organisation du Cao Dai ................................... 89
-
Cầm thú phải phục tùng bản năng, chúng không có chọn lựa nào khác. Còn con người? Con người phải là chủ nhân ông hay chỉ là con rối trong vở tuồng tiến hóa? Chúng ta có thể tự thay đổi số phận của mình chăng ? ...
-
Thời kỳ mạt pháp là thời kỳ được bắt đầu từ sau khi đức Phật nhập niết bàn 1500 năm, được khái lược trong ba điều trọng yếu: Có giáo lý, không hành trì, không quả chứng.
Chư Tổ sư giảng về điều này như sau: Thời mạt pháp chẳng phải là không có người hành trì. Song kẻ hành trì đúng theo giáo lý rất ít, hầu như không có, nên mới gọi là không hành trì. Mà bởi hành trì không đúng nên không có người chứng đạo. Bởi thế nên chư Tổ thường than: “Người học đạo nhiều như lông Trâu, người đắc đạo như sừng Thỏ.”
-
Khai minh Đại Đạo để cứu độ vạn linh thời Hạ Nguơn này, Đức Thượng Đế Chí Tôn đã nêu lên Tôn chỉ “Tam giáo qui nguyên, ngũ chi phục nhất” và mục đích “Thế đạo đại đồng thiên đạo giải thoát” . Nhưng chiếc chìa khóa để triển khai tôn chỉ và thực hành mục đích, phải nhờ đến các Đấng Thiêng Liêng trui rèn bằng giáo pháp và đạo pháp hay giáo lý và pháp môn, lập thành Tân Pháp Đại Đạo.
Nói là Tân Pháp, nhưng kỳ thật là trùng hưng Cựu pháp cộng với Chánh pháp khai minh Đại Đạo bằng nguyên lý Thiên Nhân Hiệp Nhất hay nói dễ hiểu hơn là “Trời đến với chúng sanh để khai Đạo tự hữu trong lòng chúng sanh”. Chúng ta có thể chiêm nghiệm Chánh pháp ấy qua lăng kính Đạo học và Giáo pháp với đề tài: TỪ TRUNG DUNG ĐẾN HOÀNG CỰC và TỪ NHO TÔNG CHUYỂN THẾ ĐẾN THẾ PHÁP DI LẠC
-
TỔNG QUAN VỀ Ý THỨC HỆ CAO ĐÀI
1. Định nghĩa
1.1. Ý thức hệ
Con người là những cá thể và quần thể sống có suy nghĩ, có tư duy. Sự suy nghĩ hay tư duy giúp cho con người có tư tưởng.
Giữa tư tưởng và ý thức có một mối liên hệ mật thiết. Đức Đông Phương Chưởng Quản đã dạy:
“Tư tưởng là gồm những ý thức trưởng thành để linh động hóa tiềm năng vô cùng của con người.”[1]
Những tư tưởng dẫn dắt nếp sống, đường lối hành động của con người, vạch ra mục đích cuối cùng của một tập thể, một dân tộc hay nhiều dân tộc gọi là “Ý thức hệ” (Ideology).
Trong “The American Heritage Illustrated Encyclopedic Dictionary”, ý thức hệ được định nghĩa:
“Ý thức hệ là phần trọng tâm hay chính yếu của tư tưởng, phản ảnh các nhu cầu và nguyện vọng của cá nhân, tập thể hay một nền văn hóa.”
“Ý thức hệ là một hệ thống học thuyết hay tín ngưỡng làm nền tảng cho một hệ thống chính trị, kinh tế hay các hệ thống khác.”[2]
-
Ảnh : GS Nguyễn Thuyết Phong (giữa) chơi đàn kìm bên cạnh cô Ngọc Thủy đàn tranh, David Badagnani đàn cò
TTCT - GS Nguyễn Thuyết Phong (Mỹ) và GS Trần Quang Hải (Pháp), hai gương mặt quen thuộc của nhạc Việt ở nước ngoài, trao đổi với TTCT về âm nhạc truyền thống VN thời hội nhậ
TTCT - GS Nguyễn Thuyết Phong (Mỹ) và GS Trần Quang Hải (Pháp), hai gương mặt quen thuộc của nhạc Việt ở nước ngoài, trao đổi với TTCT về âm nhạc truyền thống VN thời hội nhập.
