Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Hãy xem ta vốn là ai
• Những người tha thiết hằng ngày ước mơ,
• Thực hiện điều ấy bây giờ,
• Vì ta tin tưởng ước mơ sẽ thành
• Tất cả là Một quyết tâm,
-
Tứ vô lượng tâm
Tứ vô lượng tâm là bốn phẩm hạnh cao thượng (Brahma Vihara) mà các vị Bồ tát phải thực hành trong đời hành đạo của mình để đạt đạo quả cao gồm có bốn tâm : Tâm Từ (metta), tâm Bi (Karuna) Tâm Hỉ (mudita) và tâm Xã (Upekkha).
-
Một số người cho rằng nguồn gốc của các dân tộc Việt Nam bắt nguồn từ Trung Hoa, hoặc Tây Tạng, một số khác cho rằng nguồn gốc chính từ người Việt bản địa...
-
"Ngũ Liên Huờn Thi" là năm bài thơ thất ngôn bát cú, sáng tác của Chánh Phối Sư Ngọc Hường Thanh tại Tòa Thánh An Hội Bến Tre (1965), được Ông Nguyễn Ngọc Bích là thứ nam của Ngài Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương (Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo) (*) họa lại. Đây là một sưu tầm văn hóa đạo đức của Ông Nguyễn Ngọc Châu là con trai của Ông Nguyễn Ngọc Bích. Ông Châu có nhã ý phổ biến lần đầu tiên trên NCGL. Ban Biên Tập NCGL hân hạnh giới thiệu độc giả và chân thành cảm ơn Ông Châu.
(*) Xem tiểu sử Ngài Nguyễn Ngọc Tương, Mục TÀI LIỀU SỬ ĐẠO nơi Trang Chủ NCGL.
-
Từ lâu và hiện nay, chùa Khmer là tụ điểm sinh hoạt văn hóa - xã hội của đồng bào. Trong mỗi chùa có nhiều sư (gọi là các ông lục) và do sư cả đứng đầu. Thanh niên người Khmer trước khi trưởng thành thường đến chùa tu học để trau dồi đức hạnh và kiến thức. Hiện nay ở Nam Bộ có trên 400 chùa Khmer. Nhà chùa thường dạy kinh nghiệm sản xuất, dạy chữ Khmer
-
Đầu năm Bính Dần 1926, Đức Ngô Minh Chiêu trao thánh lịnh cho ngài Hồ Vinh Qui đem đàn cơ xuống Cần Thơ mở Đạo. Ông Hồ Vinh Qui tự Trọng Quí, Thiên ân pháp danh (nay thường gọi là Thánh danh) : Từ Huệ, là cựu thông phán. Vừa đến Cần Thơ ông gặp ngay cụ Nguyễn Như Bích. Vốn từng quen cầu cơ từ thuở còn ở Hà Tiên, nên cụ Bích sẵn lòng tiếp ông Phán Quí lập đàn cơ tại nhà mình. Song vì thân phụ cụ Bích là cụ Nguyễn Thần Hiến là một chí sĩ của phong trào Đông Du vào những năm đầu thế kỷ, nay lập đàn có nhiều người tới lui đông đảo, e rằng Pháp để ý, ông Phán Quí phải dời đàn cơ đến nhà một gia đình mới quen qua các buổi càu đàn - ông bà Nguyễn Văn Huỳnh. Khi ngày lành tháng tốt, cứ năm ba người tụ nhau lại nơi các nhà Đàn, cầu Thần Tiên cho kinh kệ rồi dạy lần ra cho nhau. Trong thời gian ngắn có hàng trăm người theo Đạo. Từ đó mở thêm đàn tại gia Ông Nguyễn Thiện Niệm, ông Tám Tỵ.
-
“Thế gian cơn hỗn độn
Hư thiệt đều chung lộn,
Hồi hướng biết về đâu,
Kìa Cao Đài nhứt bổn.”
-
1. Đạo Cao Đài do ai sáng lập ?
Đạo Cao Đài do Đức Cao Đài Thượng Đế tức Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế mà Thiên Chúa giáo gọi là Đức Chúa Trời,11 Do Thái giáo gọi là Đức Jéhovah ; Hồi giáo gọi là Đức Alah sáng lập tại nước Việt Nam vào đầu thế kỷ XX qua các sự kiện chính yếu sau đây :
- Vào đầu năm 1921, qua phương tiện thông linh bằng cơ bút (giáng cơ), Đức Thượng Đế lần đầu tiên xưng danh là "Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát" và chánh thức thâu nhận Ngài Ngô Văn Chiêu làm đệ tử đầu tiên.
- Sau khi các vị Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang vâng lịnh làm lễ vọng thiên cầu đạo vào ngày mùng 1 - 11 - Ất Sửu (16-12-1925); ngày 19-12-1925 Đức Thượng Đế giáng cơ mừng cho các Ông :
"Mừng thay gặp gỡ Đạo Cao Đài"
Đêm Lễ Giáng Sinh 24-12-1925, Ngài giáng cơ dạy như sau:
"Ngọc Hoàng Thượng Đế Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát Giáo Đạo Nam Phương,
"Muôn kiếp có Ta nắm chủ quyền,
Vui lòng tu niệm hưởng ân thiên;
Đạo mầu rưới khắp nơi trần thế,
Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên."
(TNHT, QI,1973, tr.5)
Vậy Đạo Cao Đài do Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế tức Đức Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát sáng lập.
-
Ngũ Thời /
Theo Ngài Trí Giả Đại Sư thì Đức Phật thuyết pháp chia làm năm thời kỳ như sau :
1. Thời kỳ Hoa nghiêm (Avatamsaka) : Sau khi mới thành đạo, Đức Phật dùng tuệ nhãn nhìn thấy rõ tâm địa các vị Đại Bồ Tát và các bậc căn trí Đại thừa đã thuần thục, nên Ngài nói Kinh Hoa Nghiêm để giáo hóa và điều ngự họ. Trong số đó cũng có những bậc Tiểu thừa ngồi nghe, nhưng lại chẳng hiểu Đức Phật nói gì cả.
-
Ngày 13-03-Giáp Thân, kỷ niệm ngày qui thiên của Đức Ngô, chúng ta đọc lại lược sử của Ngài.
-
Yếu tố quyết định của hạnh là tâm.
Sau khi nhập môn, chúng ta phải có ngôn ngữ, cử chỉ khác hơn hôm trước, Ơn Trên dạy phải "khác hơn người thế tục". Đó là tác phong đạo hạnh.
Hạnh là sự thể hiện của tâm, đức bên trong hành giả qua ánh mắt, khuôn mặt, lời nói, hành động. Đức Cao Triều Tiền Bối dạy "Tâm đức là bát nhã thoàn đưa người qua bĩ ngạn. Tác phong đạo hạnh gây sự cảm mến đến nhơn tâm giác ngộ."[1]
Đức Mẹ dạy:
"Tiền nhân xưa chỉ đoan sửa tánh,
Mà kết chung nhập thánh siêu phàm;
Nay con đạo hạnh vững cầm,
Dày công tu sửa sẽ làm Phật Tiên."[2]
[1] CQPTGL, 11-02 nhuần Ất Sửu.
[2] CQPTGL, 03-8 Mậu Ngọ.
-
Đức Vạn Hạnh Thiền Sư dạy :
“......Tôn giáo là những khuôn vàng thước ngọc để khép con người từ chỗ sa đọa trở nên hiền Thánh Tiên Phật, ung đúc con người từ chỗ trọng trược lòng trần được thanh thoát cao siêu. Tôn giáo là mối dây liên quan, là cửa thông đồng cho vạn dân chủng tộc........”
“Hỡi những ai là người thức tri thời vụ, ai là người đang đi trên đường đạo học, ai muốn tìm chỗ uyên thâm của đạo lý, ai muốn thoát khỏi cảnh ràng buộc trí não tâm linh giữa cõi đời hỗn loạn này, hãy tự tin, tự giác, để tìm hiểu nguyên nhân nào đưa con người vào hoàn cảnh tối tăm loạn lạc nầy. Có tìm thấy mới biết quay về với nhân bản, với bản tính chất thuần lương mà từ thuở sơ sinh đã có hằng hữu Thượng Đế giáng trung”.
