Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Troisième Ere Universelle du Salut Divin
Justice – Amour Universel – Miséricorde
L’INITIATION
A LA MEDITATION
CAODAÏSTE
Vénérable CHI-TIN
Traduit du vietnamien
Par l’Eglise Cao Dai de Paris
Première Edition
Avril 2007
-
KHÁI LƯỢC VỀ CÔNG PHU
Bài nói chuyện tại Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo
ngày 15 tháng 3 năm Đinh Hợi (1-5-2007)
Thiện Hạnh
Tam công là phương pháp tu hành của người môn đệ Cao Đài trong Tam kỳ Phổ độ bao gồm công quả, công trình và công phu. Một cách khái quát, công quả là giúp đời tế chúng, công trình là rèn luyện thân tâm, còn công phu là tham thiền nhập định hầu đạt đến giải thoát tại trần gian và siêu xuất thế gian.
-
Giao cảm /
Thu về: mùa thâu liễm
Tiết trời đã vào Thu, những đám mây xám làm bầu trời thấp xuống và mưa rả rích, những hàng cây co lại trong gió Thu lành lạnh, mọi người ngần ngại ra ngoài mà tâm hồn hình như cũng lắng đọng nỗi niềm riêng…
(Ảnh: Chiều thu vàng-Thiện Chí-06)
-
1. Hiểu được tầm quan trọng của công phu thì cấp nào cũng siêng cúng, siêng tịnh nhờ đó thân, tâm được lành, mạnh, gắn bó việc học, tu, bồi công lập đức.
2. Bước đầu công phu là điều thân, điều tâm, điều tức để tự biết mình, rồi hiểu Thánh Ý mà học, tu, hành đạo.
3. Có hành thâm công phu thì mới đủ năng lực mà hoàn thành mục đích, tôn chỉ, lập trường Đại Đạo.
-
Bài Thuyết đạo tại Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo
ngày 19-6-Đinh Hợi (01-8-2007)
________
[Ảnh bên: Tượng Quan Thế Âm Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn tại Linh Sơn Cổ Tự, đường Cô Giang, Q1, TP.HCM-Dưới tựong có xưng danh hiệu Ngài: "Nam Mô Đại Từ Đại Bi Thị Hiện Thiên Thủ Thiên Nhãn Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát"]
* * *
Hôm nay là 19 tháng 6 âm lịch, kỷ niệm ngày thành đạo của đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Quan Thế Âm Bồ Tát rất gần gủi với đời sống tâm linh của các dân tộc Châu Á nói chung như Ấn Độ, Tiểu Á, Tây Tạng, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Kampuchia…Riêng Việt Nam đã biết đến oai lực của Ngài từ thuở bình minh của dân tộc. Ngài là một vị Bồ Tát đã đắc quả từ lâu nhưng không nhập Niết Bàn, vẫn qua lại nơi cỏi ta bà để cứu độ chúng sanh vơi 12 lời đại nguyện
-
Theo giáo lý Cao Đài, cũng như của nhiều tôn giáo khác, lịch sử nhân loại đang trải qua thời kỳ sau cùng của một đại chu kỳ từ thượng nguơn, trung nguơn đến hạ nguơn. Và thời hạ nguơn này là thời mạt kiếp để rồi chuyển sang chu kỳ mới, gọi là tái tạo dinh hoàn, lập lại trời mới đất mới hay thượng nguơn thánh đức. Đó là quy luật tiến hóa của vũ trụ. Không thể chỉ có sinh mà không có diệt, không chỉ có diệt mà không có sinh; sinh diệt, diệt sinh nối tiếp nhau vũ trụ mới vừa trường cửu vừa tiến hóa. Ví như trong thiên nhiên: "Cánh hoa mai vừa hé nụ, từng loạt lá đã rụng rơi, rồi hoa lại úa tàn, nhụy hoa tan tác, để dành phần cho quả hạt tạo thành." (Đức Vạn Hạnh Thiền Sư, TGST 1970-1971, tr. 54.)
-
Chư hiền đệ hiền muội ! Bốn mươi hai năm khai đạo và giáo đạo vừa qua, chính Đức CHÍ TÔN đã bổn thân xuống trần, cũng như các hàng Phật Tiên Thần Thánh đều giáng bút, phát ban nhiều kinh điển, nhiều giáo lý; chư hiền đệ hiền muội và các hàng đệ tử đã đọc qua nhiều lắm rồi. Giờ đây chỉ còn có một điều là thực hành chơn pháp, rèn luyện chánh tâm, giữ gìn chánh tín, để tu chánh đạo, hầu tự cứu trong cơ sàng sảy đào thải của định luật.
-
Lễ nhạc và thánh thi Cao Đài
Trong buổi sơ khai của đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn đã dạy chư tiền bối tiền khai Đại Đạo lập ra nhac lễ của Đạo.( Ảnh: Ban nhạc lễ tại Đền thánh Tòa thánh Tây Ninh)
Thánh giáo trong quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển I có ghi rõ:
27 juin 1926
18 tháng 5 Bính Dần
Ngọc-Hoàng Thượng-Ðế Viết Cao-Ðài
Giáo Ðạo NamPhương
Nhơn, con phải khởi sự kể từ ngày nay cho tới ngày Ngọc-Ðàn Vĩnh-Nguyên-Tự tập nhạc đủ lại hết. Như nhập lễ thì đừng đánh trống Bác-Nhã, mà đánh Ngọc-Hoàng-Sấm, nghĩa là mỗi hồi mười hai tiếng, đổ xuống đủ 12 hồi, ba lần như vậy.
Bạch-Ngọc-Chung cũng giọng ấy.
Khi nhập lễ xướng "Khởi-Nhạc", thì phải đánh trống và đờn bảy bài cho đủ.
Chừng hiến lễ, phải đờn Nam-Xuân ba bài, vị Lễ Sanh phải hiến lễ bảy lái, đi chữ Tâm. Tới khi thài, thì đờn "Ðảo-Ngũ-Cung", rồi con lại bắt đầu đờn lại, cho chư Môn-đệ tụng kinh. […]
-
Kính thưa quý vị,
Hôm nay là ngày Lễ Vía Đức Thái Thượng Đạo Tổ, đồng thời là ngày kỷ niệm chu niên 45 năm hành đạo của Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo. Như thông lệ, chúng tôi được vinh hạnh hầu chuyện với quý vị một đề tài đạo đức.
Như quý vị đã biết, Đức Thái Thượng Đạo Tổ là một trong Tam giáo Đạo Tổ mà Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tôn thờ dưới Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế và Đức Diêu Trì Kim Mẫu.Ngài là đấng:
“Tiên thiên khí hóa Thái Thượng Đạo Quân,
Thánh bất khả tri, công bất khả nghị,
Vô vi cư Thái cực chi tiền,
Hữu thỉ siêu quần chơn chi thượng”
Tức nguồn gốc của Ngài là khí Tiên thiên, sự minh triết và công đức của Ngài không ai có thể nghị luận rốt ráo nỗi. Khi trời đất chưa sanh thì Ngài thuộc về Vô vi, trước khi Thái cực xuất hiện. Khi Thái cực bắt đầu sanh hóa, thì Ngài là đấng cao siêu hơn tất cả các đấng Tiên Thánh khác
-
Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo – Tòa Thánh Bến Tre
Lược ghi một số sự kiện lịch sử
-
THANH NIÊN và THIÊN CƠ GIÁO ĐẠO
Ngày kỷ niệm Khai Tịch Đạo năm Mậu Tuất 1958, Đức Lý Giáo Tông Đại Đạo đã chỉ rõ tiến trình cơ Thiên đã định: "… muốn đạo thành phải làm sao? Nên nhớ rằng: mười hai năm khai đạo, mươi hai năm kế giáo đạo, mười hai năm sau thành đạo. Trong tam thập lục niên sở định, khi giai đoạn đầu mà các hướng đạo đã làm được thì đến giai đoạn hai đạo thành rất dễ…" [1]
Vì vậy,12 năm sau khi Khai Lập Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ bước vào năm Mậu Dần 1938, việc giáo đạo vấn đề huấn luyện thanh niên để thành phần tuổi trẻ ý thức góp phần tham gia vào công cuộc truyền đạo đã được Thiêng Liêng triển khai rộng khắp. Việc gieo ý thức này, đồng thời tác động vào cả 2 đối tượng: lớp người đi trước đang lãnh đạo lèo lái con thuyền Đại Đạo và những người trẻ đang tiếp bước theo sau.
[1]Đức Lý Giáo Tông, Nam Thành Thánh Thất, 23 tháng 8 năm Mậu Tuất (1958)
-
Bực Chơn Nhơn ngày xưa không ưa sống, không ghét chết, lúc ra không hăm hở, lúc vào không do dự, thản nhiên mà đi, không quên lúc bắt đầu, không cầu lúc sau chót. Nhận lãnh thì vui với đó, mà quên đi khi phải trở về. Nhờ được thế mà lòng họ luôn luôn vững vàng, cử chỉ điềm đạm, gương mặt luôn luôn bình thản
