Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Hỡi các con ! Hẳn các con có nghe câu : "Thiên Địa tuần hoàn, châu vi phục thỉ". Tuy lời nói đơn sơ nhưng đúng với lý thiên nhiên của Tạo hóa. Từ thuở tạo thiên lập địa, Bàn Cổ sơ khai, thì các con còn là bổn tánh chơn như chất phác hiền lương, sống lẫn lộn thú cầm, chỉ biết đói ăn khát uống. Vì đức háo sanh của THƯỢNG ĐẾ muốn các con vượt lên một mức để phân tách với thú cầm, nên cho các vị thánh đức lâm phàm cải tạo đời sống các con thành một giá trị trên vũ trụ và xây dựng cho các con một nền tảng nhân đạo vững chắc muôn đời vẫn còn sử dụng.
-
Tư tưởng Đức Phật như một buổi đại yến tiệc, mà nói như nhà thơ Bùi Giáng, chỉ cần một hạt cơm thừa trên bàn tiệc đó cũng quá đủ để chúng ta thụ dụng suốt bình sinh. Điều đó ta càng dễ dàng cảm nhận khi đi sâu vào thế giới kinh điển Phật giáo.
Không cần đến cảnh giới hoành tráng được mô tả trong kinh Hoa Nghiêm hay tư tưởng siêu việt được diễn đạt trong kinh Đại Bát Nhã, vốn là những thứ có thể làm cho những kẻ sơ cơ như chúng ta khiếp hãi, mà ngay những câu kệ đơn giản mộc mạc trong kinh Pháp Cú hay kinh Phật thuyết Bát Đại Nhân Giác cũng khiến chúng ta cảm nhận được chiều sâu thăm thẳm, khi chúng ta đọc những trang kinh đó bằng những suy niệm chân thành.
Trong phần cuối của bài kệ thứ ba trong kinh Phật thuyết Bát Đại Nhân Giác, Đức Phật dạy rằng, bậc Bồ tát cần phải: "Thường niệm tri túc, an bần thủ đạo, duy Tuệ thị nghiệp”. (Thường nghĩ đến việc biết đủ, yên trong cảnh nghèo mà giữ đạo, chỉ lấy việc đạt đến tuệ giác làm sự nghiệp đích thực của mình). Kinh Phật thuyết Bát Đại Nhân Giác rất ngắn, chỉ gồm tám bài kệ ngắn nói về tám điều giác ngộ lớn, song chỉ cần một phần của bài kệ thứ ba này cũng đủ làm kim chỉ nam cho những ai thành tâm tu học, muốn đi vào thế giới của Phật đà.
-
Cụm từ Tam Kỳ Phổ Độ bao hàm hai ý nghĩa:
Ý thứ nhất: Diễn tả lần lượt cho ba lần (ba kỳ) Trời gieo mối Đạo xuống trần gian; gồm Nhất kỳ (kỳ thứ nhất), Nhị kỳ (kỳ thứ nhì), và Tam kỳ (kỳ thứ ba).
Ý thứ hai: Nói riêng cho lần phổ độ thứ ba.
Danh hiệu Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ còn có nghĩa là Đạo Cao Đài. Phần trình bày này nhằm phân tích ý thứ nhất: Tam Kỳ Phổ Độ là ba đợt Trời dạy Đạo cho nhân sinh, và như vậy bao hàm luôn ý thứ hai.
-
ĐỨC DA TÔ GIÁO CHỦ
BÀI HỌC LỚN CỦA MUÔN ĐỜI
KIM DUNG
Mùa Giáng Sinh lại đến, cả hành tinh này đang tưng bừng rực rỡ với những ngọn đèn nến, nhơn sanh nhộn nhịp thiết lễ tưởng nhớ đến một Đấng Cứu Thế của hơn 2000 năm qua đã tỏa sáng ánh đạo lý yêu thương cho muôn loài:
Chúa Cứu Thế muôn đời còn mãi sống,
Sống muôn đời và sống mãi muôn đời.[1]
Ngài vẫn sống mãi trong lòng nhân loại với đầy sự tôn kính và sùng thượng.
Hằng năm vào ngày giờ này thánh thất Bàu Sen long trọng thiết lễ kỷ niệm mừng Chúa Giáng Sinh. Trong không khí thiêng liêng tràn ngập ân phước và bình an của Đức Chúa Trời, tất cả chúng ta, những môn đệ của Đức Chúa Da Tô cùng dâng nén tâm hương thành kỉnh hướng về Ngài để chiêm ngưỡng Đấng Cứu Thế đã chịu đổ máu đào trên thập giá, hy sinh thọ khổ, chuộc tội cho loài người.
[1]Thánh thất Bàu Sen, 23-11 Đinh Mùi (24-12-1967).
-
SƠ LƯỢC về HUYỀN BÚT CƠ trong ĐĐTKPĐ.
Tý thời 14 rạng 15 tháng 3 Mậu Thân 1968, một buổi đàn cơ đặc biệt được tiến hành tại Tam Giáo Điện Minh Tân, bến Vân Đồn quận tư Sài Gòn. Đặc biệt, là do bởi đàn cơ nầy được thực hiện không theo phương cách và hình thức cầu cơ thông dụng của Cao Đài Giáo: dùng đồng tử thủ Đại Ngọc Cơ để Ơn Trên giáng điển viết chữ cho độc giã đọc hoặc cho đồng tử xuất khẫu. Trái lại trong buổi đàn cơ nầy, các đấng Thiêng Liêng dùng huyền linh điển làm cho một ngòi bút nhỏ được treo bằng một sợi chỉ tự động di chuyển trên một bảng chữ cái tiếng Việt. Ngòi bút di động đến mẫu tự nào thì đọc giả xướng lên cho điển ký ghi lại chữ đó và cứ thế mà ráp vần. Theo tài liệu còn lưu lại, số người dự buổi đàn đặc biệt đêm hôm đó gồm: bộ phận hành sự Huyền Cơ, bộ phận Hiệp Thiên Đài và nam nữ đạo hữu, tất cả là 106 vị.
-
Quan Phổ Thông Giáo Lý. Tuất thời, 14 tháng 8 Đinh Tỵ (26-9-1977)
Gác áng tường VÂN gót lãng du,
Ngút trầm HƯƠNG nhẹ thoảng hương thu,
Dừng chơn THÁNH địa nào chơn thánh,
Nầy Đấng MẪU nghi đã vận trù.
.
-
THÁI hoà xuân khởi Phục[1] và Lâm,
THƯỢNG trí[2] gieo trồng khắp cõi tâm;
LÃO noãn non già theo đúng độ,
QUÂN bình trong đạo mới huyền thâm.
[1]Quẻ Địa lôi phục= tiết đông chí (nhất dương) Quẻ Địa trạch lâm (nhị dương) rồi kế tam dương là Địa thiên thái.
[2]Thượng trí là bậc "cần nhi hành chi".
-
Đức Lý Đại Tiên Trưởng Giáo Tông Vô Vi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ dạy rằng sứ mạng của người hướng đạo "là tự độ và độ tha. Tự hoàn thiện mình và hoàn thiện tha nhân trên 2 phương diện:
1. Phổ thông phổ truyền giáo lý về mặt ngoaị giáo công truyền.
2. Đạt Đạo giải thoát bằng phương pháp Tánh Mạng song tu về mặt nội giáo tâm truyền, đó là cứu cánh."(22-02 Bính Dần)
-
Đức Chí Tôn dạy :
“Con dừng chân nghe tiếng gọi sau lưng để trở về với Đạo. Đạo là yên lặng, Quyền Pháp ở nơi kín nhiệm. Trí người dù khôn ngoan đến đâu, mưu chước dù bí mật đến đâu, hễ mưu hại ai chán chường thì có mặt trời, mặt trăng sao chớp soi rọi, trong bóng tối thì không ngoài con mắt mầu nhiệm của THẦY. Con đã theo THẦY sao không học THẦY phép đó?” (Trung Hưng Bửu Tòa, ngày 26-7-ĐĐ.33 (Mậu Tuất), (09-9-1958)
-
Theo Larousse, "thiền" có nghĩa là "trải qua sự quán tưởng sâu sắc, khảo sát, suy tư sâu sắc." Theo wikipedia, " từ ngữ "thiền" (meditatio Latin) đề cập đến một thực nghiệm trí não hoặc tinh thần thường là , nhưng không nhất thiết, là một sự chú ý vào một vấn đề thuộcvề tư tưởng như tập trung suy tư về một nguyên lý triết học , với mục đích đào sâu ý nghĩa của nó, hoặc tự suy nghĩ về mình để thực hành thiền quán hầu đạt đươc " bản tâm" của hành giả.Hai đạo truyền thống Trung Quốc, Khổng giáo và Đạo giáo, Phật giáo và các đạo Sufi của Hồi giáo phải chăng cũng là những hệ phái (những đường lối)Thiền"?
-
Ngài Bác Nhã Thiền Sư trong bài Chánh Pháp Nhãn Tạng – Niết Bàn Diệu Tâm đã cho chúng ta biết có bốn loại Tâm là Duyên Lự Tâm, , Tư Lương Tâm, Tích Tập Tâm và Kiến Thật Tâm hay Thể Tánh Thường Trụ. Tuy nói bốn, chớ kỳ thật cũng có một Tâm mà thôi. Đại lược cho ta thấy sự động tịnh của Tâm, Thánh Phàm của nó.Thể của Tâm ví như tánh “ướt”, Tướng của Tâm ví như nước lưu chuyển, Dụng của Tâm như sóng gió, sông ngòi, rong rêu, tôm cá, cù lao, bọt sóng. Tâm là một biển thức, sóng nổi cuồn cuộn, ầm ỉ đêm ngày là do gió “nghiệp” khởi lên. Gió là vô minh, sóng là nghiệp thức. Phá vô minh thì mọi sự an lành, mà phá được vô minh, trừ khi Bác Nhã không còn phương nào khác.
“Bác Nhã là gì ? Là “Giác”.
-
Nay, nhân loại sẽ bước sang kỷ nguyên mới của thiên niên kỷ kế tiếp. Đây là một khúc quanh vô cùng quan trọng do những dự báo thay đổi lớn lao từ tinh thần đến vật chất trong đời sống loài người.
Từ đà phát triển, tiến bộ cực kỳ nhanh chóng trên mọi lãnh vực liên quan trực tiếp đến sự sống, cách sống, cách làm việc của con người trong những thập niên cuối thế kỷ này, thế giới có đủ cơ sở để chuẩn bị đón nhận những thế hệ con người mới trong kỷ nguyên mới.
Chân dung con người mới của kỷ nguyên mới chắc hẳn chưa phai mờ những nét đẹp di truyền bao thế hệ của tổ tiên, nhưng cũng sẽ bộc lộ một tâm hồn trẻ trung, đầy sức sống và nhạy cảm với thời đại.
