Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Người tín đồ Cao Đài hàng ngày bắt đầu thời cúng của mình bằng bài kinh Niệm Hương với hai câu đầu: “Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp. Lòng nương nhang khói tiếp truyền ra…”, sau đó tụng đến bài Khai Kinh: “Biển trần khổ vơi vơi trời nước…”.
Có thể nói, tất cả tín đồ Cao Đài đều thuộc nằm lòng hai bài kinh này, nhưng cũng có thể
nói, ít người biết rằng hai bài kinh trên có gốc từ chi đạo Minh Lý (Tam Tông Miếu)1
-
Question
I am also interested in hearing more about ways in which Caodaism is becoming "globalized"----linked to communities in other countries and part of an international conversation.
-
Long Thụ /
Động cơ trung tâm cho việc hoá độ của Long Thụ – một công trình hoằng pháp lập cơ sở cho Trung quán tông sau này cũng như lưu lại nhiều tác phẩm triết học Phật giáo – chính là việc khôi phục giáo lí của đức Phật.
-
Cơ QuanPhổ Thông Giáo Lý, Tý thời 30 rạng mùng 1 Đinh Tỵ (17.02.1977)
-
Các trận đấu đã tạm thời chấm dứt, nhưng họ phải luôn luôn chiến đấu với chính mình để tự thắng. Và lịch sử thể thao đã cho thấy kẻ tự thắng sẽ thủ thắng trước đối phương! Sự vinh quang của họ sẽ tỏa sáng mãi không phải bằng các tỉ số mà chính là những giá trị thiện mỹ, trí tuệ và phong cách "fair play".
-
Trong Phúc âm, Thánh Mathiơ viết :
" Khi Đức Chúa Jesus đã sinh tại thành Belem, xứ Giu-đê, đang đời vau Hêrôđê, có mấy thầy thông thái ở Đông phương đến thành Giêsu sa lem mà hỏi rằng : Vua dân Giuđa mới sanh tại đâu ? Vì chúng ta đã thấy ngôi sao Ngài bên Đông phương, nên đến đây đặng thờ lạy Ngài". (Mt,2.1, 2)
-
Mẹ đến cùng con giữa tiết thu,
Dắt dìu con trẻ thoát mây mù;
Mượn câu đạo lý lời an ủi,
Dụng tiếng yêu vì để khuyến ru.
Minh cảnh con khờ đành lấp bụi,
Đèn tâm trẻ dại để mờ lu;
Hỡi con yêu dấu mau tu tỉnh,
Tiên cảnh quay về chớ viễn du.
-
Những nỗi niềm nhân sinh mang ý nghĩa tríết học xuất phát từ sự phản tỉnh của tâm thức khao khát tìm kiếm lẽ thật của đời người đã dẫn dắt con người đi đến cảm nhận sâu sắc về nỗi cô đơn cũng như những bi kịch tất yếu của kiếp người để chấp nhận nó và hóa giải nó một cách “tùy duyên” bằng cái tâm trong sáng và an định. Mặt khác, những nỗi niềm nhân sinh mang ý nghĩa xã hội xuất phát từ sự phản tỉnh của tấm lòng lo đời thương dân đã mang đến cho con người trong thơ vẻ đẹp của sự quên mình và tận tụy. Nét đẹp nhân văn ấy phải chăng đã góp phần không nhỏ khẳng định nhân cách lớn lao của con người thời Đông A cũng như dấu ấn khó phai của một thời đại thơ ca một đi không trở lại.
-
Quan niệm và biểu tượng về Thượng Đế trong Đạo Đức Kinh
1. Giới thiệu.
Khi qua ải Hàm Cốc, Đức Lão Tử chỉ để lại một bộ kinh duy nhất cho ông Doãn Hĩ làm phương tu hành, đó là Đạo Đức Kinh (ĐĐK). Về sau, ĐĐK trở thành quyển kinh tổ của Đạo Giáo. Trên phương diện triết học, học thuyết của Đức Lão Tử trong ĐĐK được xem là hoàn chỉnh nhất về một vũ trụ quan làm cơ sở cho một nhân sinh quan mới mẻ thời Tiên Tần. Vũ trụ quan của Lão học thâu tóm trong một chữ ĐẠO -- Bản nguyên vũ trụ -- mà không đề cập đến quan niệm Thượng Đế như các học thuyết khác. Để làm rõ mối liên hệ giữa ĐẠO và Thượng Đế, bài viết này dùng cách tiếp cận là so sánh đối chiếu quan niệm về Đạo trong ĐĐK và quan niệm về Thượng Đế trong vũ trụ luận Đại Đạo.
-
Mỗi độ Xuân về, thiên nhiên trào dâng sức sống, vạn vật chuyển mình khởi đầu lại một chu kỳ tiến hóa mới. Con người cũng cảm nhận những đổi thay trong bản thân và tâm hồn...
-
Hội ý bài kệ “Nhãn thị chủ tâm” của Đức Chí Tôn, thì Chánh pháp này cũng đặt tại Tâm thông qua mắt. Và nguyên tắc hành pháp là “cơ tại mục”, tức dụng Tâm làm chủ để để phối hợp công năng Âm Dương của hai mắt vào Thiên môn xuyên qua Thiên mục tại mi gian. Trong một đàn pháp tại Bát Nhã Tịnh Đường năm 1973, Đức bác Nhã dạy: “ . . .phải thêm một việc là khai chánh pháp nhãn tạng, là phải phối hợp nhựt nguyệt vào thiên môn”
-
Nay, nhân loại sẽ bước sang kỷ nguyên mới của thiên niên kỷ kế tiếp. Đây là một khúc quanh vô cùng quan trọng do những dự báo thay đổi lớn lao từ tinh thần đến vật chất trong đời sống loài người.
Từ đà phát triển, tiến bộ cực kỳ nhanh chóng trên mọi lãnh vực liên quan trực tiếp đến sự sống, cách sống, cách làm việc của con người trong những thập niên cuối thế kỷ này, thế giới có đủ cơ sở để chuẩn bị đón nhận những thế hệ con người mới trong kỷ nguyên mới.
Chân dung con người mới của kỷ nguyên mới chắc hẳn chưa phai mờ những nét đẹp di truyền bao thế hệ của tổ tiên, nhưng cũng sẽ bộc lộ một tâm hồn trẻ trung, đầy sức sống và nhạy cảm với thời đại.
