Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
TÌM HIỂU Ý NGHĨA " CHƠN THẦN"
Về từ ngữ “ Chơn Thần”
_ Định nghĩa :
_ Chơn thần theo thánh giáo trong TNHT q1: 3 Janvier 1926
Ngọc-Hoàng Thượng-Ðế Viết Cao-Ðài
Tiên Ông Ðại Bồ-Tát Ma-Ha-Tát
Giáo Ðạo Nam Phương
-
Thanh Niên Online
Thăng Long - Hà Nội qua mộc bản triều Nguyễn: Cải cách văn hóa và tuyển dụng nhân tài
Đời vua Lý Nhân Tông (năm Ất Mão - 1075) đã mở khoa thi đầu tiên ở Thăng Long. Các tài liệu trong kho tàng mộc bản triều Nguyễn cho thấy các triều đại đã có những biện pháp tích cực trong việc cải cách văn hóa, phát hiện nhân tài và nâng cao trình độ dân trí.
-
ĐÔI ĐIỀU TÂM ĐẮC KHI HỌC
LỜI ĐỨC KHỔNG THÁNH VÀ CÁC ĐẤNG TIÊN NHO DẠY
Bài nói chuyện tại Hội trường Thuyết minh giáo lý Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý ngày 01-9 canh Dần (08-10-2010)
. . .Đức Khổng Tử sanh ngày Canh Tý tháng 11 (tháng Tý) năm 21 đời vua Linh Vương Nhà Chu năm Canh Tuất (năm 551 trước tây lịch), tại huyện Khúc Phụ, Làng Xương Bình, nước Lỗ, nay thuộc tỉnh Sơn Đông. Cha đặt tên Khổng Khâu, tên chữ là Trọng Ni.
Cha là Ông Thúc Lương Hột. Mẹ là bà Nhan thị Trưng Tại.
- Năm ba tuổi đã thích cúng tế.
- Thành nhân làm Uy lại coi việc tính toán đo lường.
- Kế làm Tư chức lại coi việc chăn nuôi trồng tỉa.
- Năm 34 tuổi diện kiến với Đức Lão Tử. Sau đó đi chu du liệt quốc.
- Năm 56 tuổi về nước Lỗ giữ chức Trung Đô Tể (giữ quốc thành của nước Lỗ), kế làm quan Tư Không rồi Đại Tư Khấu kiêm Tướng quan (Tể tướng). Ngài thi hành pháp công chém đại phu Thiếu Chính Mão.
- Khi hội với nước Tề ở Giáp Cốc, tài ngoại giao của Ngài buộc Tề phải trả các đất đã chiếm của nước Lỗ. Tài cao đức trọng thì bị nhiều dèm pha, Ngài phải từ chức ra đi.
Từ năm 68 tuổi, Ngài chuyên vào công tác văn hóa để lại sự nghiệp cho muôn đời là san định Kinh: Thi, Thư, Lễ; tự viết kinh Xuân Thu và viết Thập Dực cho Kinh Dịch.
. . .
-
Thời gian là dòng sông vĩnh cửu, nhưng nếu không có bốn mùa thì lấy chi để đánh dấu thời gian. Mỗi mùa có những sắc thái riêng, mà Xuân lại được ca ngợi đón chào nồng nhiệt nhất, thì Xuân càng vinh hạnh biết bao! Nên Xuân đến, Xuân đi, rồi Xuân lại về!
-
I. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ
II. ĐƯỜNG LỐI và CHỨC NĂNG HÀNH ĐẠO CỦA CƠ QUAN
III. MỤC ĐÍCH CƠ QUAN (trích Chương III –điểu 3 / Bản Qui Điều Cơ Quan)
IV. HỌAT ĐỘNG CƠ QUAN (trích Chương IV-điều 4 / Bản Qui Điều Cơ Quan)
V. TỔNG QUÁT VỀ SỨ MẠNG CQPTGLĐĐ
VI. KẾT LUẬN
-
Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ hay Cao Đài giáo-cơ phổ độ đã hiện diện trên Nam bang Thánh địa được 80 năm.
-
Học Lão Tử Đạo Đức Kinh, ngoài giáo thuyết vô vi, chúng ta vẫn tìm thấy những bài học rất thực tiễn áp dụng cho đời sống an lạc giữa xã hội. Trong đó, có thể khái quát thành hai phương diện:
_ Sống đời bình dị
_ Sống đạo tự nhiên
-
. . ."Trong sở vật thực tại con người, điểm Quyền Pháp là linh hồn. Nhờ đó mà sinh ra, trưởng thành, và có thể tiến hóa đến mức đổi phàm thành thánh, thay tục hóa tiên được… Các tôn giáo hiện có chỉ là cấu tử chớ chưa phải là "Đạo", là "Tôn giáo cứu thế". Vì lẽ đó mà Đại Từ Phụ mới ban Quyền Pháp. Quyền Pháp là Thầy, là Đạo, là động năng thúc đẩy tạo thành thánh đức sau hội Long Hoa.
Bần Đạo đã nói : Quyền Pháp là Thầy, là Đạo. Nhắc lại Đạo chớ không phải là tôn giáo."
NTTT, Ngọ, 01.01.K.Dậu (17.2.69) tr.5
-
Tam giáo Việt Nam đã có một lịch sử lâu dài, kể từ thế kỷ I, II trở đi, cho nên dễ hiểu vì sao Tam giáo đã có ảnh hưởng sâu sắc không phải chỉ trong tầng lớp trí thức giỏi chữ Hán mà còn gieo được tư tưởng đạo đức trong quần chúng bình dân không biết chữ Hán. Văn học dân gian (hay văn chương truyền khẩu) qua các loại hình cổ tích, dân ca, ca dao, tục ngữ... là những bằng chứng rõ ràng cho thấy dấu ấn Tam giáo trong văn hóa đạo đức của dân tộc Việt. Các vị tiên, phật luôn luôn có mặt trong các câu chuyện cổ tích khuyến thiện để giáo dục con người tu nhân tích đức, làm lành lánh dữ.
-
Trướt hết, cần tìm hiểu hai chữ "đồng hành".
Theo nghĩa hẹp, đồng hành là "cùng đi", nhưng cùng đi trong tình huống nào ? Đi cùng một lúc hay cùng một đường, và có cùng đi đến một mục đích hay một địa điểm không ?
Nên đồng hành còn có nghĩa rộng rất quan trọng.
-
Tâm là nguồn gốc muôn vật, hễ nói đến Đạo là nói đến Tâm. Trên đời này có vô số kinh điển triết thuyết nói về tâm mà chưa cùng tột chỗ rộng lớn minh linh của tâm. Thế nên những ai phát nguyện tham cứu tu học Đại Thừa để làm sáng Thiên Đạo cũng nên dung hội các giáo lý cao thâm để tìm hiểu yếu lý tối thượng đạo pháp. Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ rất cần có một số hướng đạo thông đạt đến chỗ yếu lý cao siêu của Tam Giáo để xây đắp nền tảng cho giáo pháp của Đạo bằng tinh hoa kết hợp đúng với tinh thần dân tộc.
-
Tu hành /
Chúng ta theo lẽ thường tình hay dùng từ Tu Hành để chỉ các vị chức sắc tôn giáo cùng những vị hiến thân ở chùa, thất, gọi như vậy thật ra chưa đúng, bởi tuy là các vị ấy hiến thân nơi cửa Đạo, đang làm một số công việc đạo, nhưng chưa được thọ truyền Bí pháp để trau tâm, luyện tánh thì không thể gọi là có tu hành được.
