Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Hôm nay chúng ta qui tụ về đây tham dự lễ kỷ niệm ngày tái thiết Vĩnh Nguyên Tự cùng với bổn đạo địa phương.
Về hình thức, cuộc lễ kỷ niệm không có gì khác hơn các lễ kỷ niệm của các Thánh Thất Thánh Tịnh khắp nơi.
Ngôi cổ tự đã được tạo lập cách đây gần 100 năm, và đã tái thiết cách đây 30 năm. Kiến trúc là "Kiến trúc chùa" rất hoàn chỉnh, nhưng đơn giản không nguy nga rưc rỡ như các nơi khác. Điểm độc đáo của ngôi chùa là một ngôi chùa Cao Đài !
Và nếu chúng ta hồi cứu một chút lịch sử và tâm huyết của tiền nhân sáng lập, sẽ thấy cuộc lễ có một ý nghĩa rất đặc biệt. Đó là ý nghĩa PHỤC HƯNG TRUYỀN THỐNG ĐẠO NHÀ.
-
Vĩnh Nguyên Tự
Ngọ thời, 03-12 Tân Hợi (18-01-1972)
-
Trần Quốc Tuấn (1228 - 1300) là anh hùng dân tộc, nhà văn hóa vĩ đại trong lịch sử Việt Nam. Làm tướng, ông biết dẹp bỏ "thù nhà" dốc lòng báo đền "nợ nước" góp công lớn ba lần đánh bại quân Nguyên. Ông còn là tác giả của hai bộ binh thư và đặc biệt bài "Hịch tướng sĩ" nổi tiếng còn lưu truyền đến ngày nay.
-
Tìm hiểu cách thức chấm giải Nobel Văn học:
Horace Engdahl:
Chánh khảo văn chương quyền lực nhất thế giới
Hàng năm, cứ vào tháng 10, giới văn chương khắp 5 châu lại hồi hộp chờ xem giải Nobel Văn học trong năm sẽ thuộc về ai. Hội đồng lựa chọn trao giải Văn học danh giá nhất thế giới này là Viện Hàn lâm Thụy Điển, đứng đầu hiện là Giáo sư Horace Engdahl. Ông vẫn được coi là "Chánh khảo Văn học quyền lực nhất thế giới". Hôm thứ Năm 11-10-2007, ông đã lại có dịp xuất hiện để thông báo giải Nobel Văn học 2007 thuộc về nữ nhà văn người Anh Doris Lessing. Thế nhưng, cho đến nay, người ta còn biết khá ít về Engdahl, cũng như hoạt động của "Ban chủ khảo" do ông đứng đầu.
-
Linh Quang Tự hay Linh Quang Phật Đường là ngôi tổ đình phái Phổ Tế chi Minh Sư.
-
Từ thuở khởi nguyên của đạo tức tôn giáo Cao Đài chúng ra, khi Đức Chí Tôn vừa thâu nhận xong hai nhóm đệ tử đầu tiên của Ngài thì Đức Từ Mẫu bèn đến với chư Tiền Khai trong khung cảnh Hội Yến Bàn Đào.
Sự lâm phàm Khai Đạo của Thầy được biểu trưng bằng Thiên Nhãn, mà Thiên Nhãn cũng chính là ngôi Thái Cực hóa sanh vạn vật, vận hành vũ trụ.
Sự lâm phàm của Mẹ được biểu trưng bằng cuộc hội yến trùng hoan.
Một cung cách thống ngự, khai sinh của Thầy.
Một cung cách gần gũi, vỗ về của Mẹ.
Hình thức mở đạo đã bày tỏ thiên lý, thiên cơ.
Mẹ là Vô Cực, là bản thể, là ngôi bảo tồn. Thầy là Thái Cực là ngôi Sáng tạo. Cho nên đứng về hiện tượng tôn giáo, khai Tam Kỳ Phổ Độ thì duy có Thầy là Giáo chủ. Còn về mặt cứu rỗi vô vi thì Đức Từ Tôn chưởng quản.
-
Khi các thiên thần từ giã các mục tử mà về trời, những người này bảo nhau : "Nào, chúng ta đến Belem và xem điều đã xảy ra xem điều mà Thiên Chúa cho chúng ta biết".
Họ hối hả đi tới và gặp, thấy bà Maria, Ông Giuse và Hài nhi nằm trong máng cỏ. Sau khi đã xem, họ cho biết điều họ đã được nghe nói về Hài nhi này. Và tất cả những người được nghe kể lại thì đều ngạc nhiên về điều mà các mục tử nói với họ.
-
Biến Hoá kinh, viết vào khoảng năm 612 sau CN (thời Tùy Dạng Đế) cho rằng Lão Tử chẳng những có từ muôn thuở, mà Ngài chính là Thượng Đế. Ngài đã giáng trần nhiều lần, để cứu độ muôn dân.
Khảo thư tịch đạo Lão, ta thấy dân gian tin rằng đức Lão Tử là một trong 3 ngôi Ngọc Hoàng Thượng Đế. Ba ngôi đó là:
- Nguyên Thủy Thiên tôn, hay Thiên Bảo quân hay Ngọc Hoàng ở cung Ngọc Thanh.
- Linh Bảo Thiên tôn, hay Linh Bảo quân ở cung Thượng Thanh.
- Thần Bảo Thiên tôn, hay Lý Lão Quân hay Lão Tử ở cung Thái Thanh.
-
Thiện thư 善書 hay khuyến thiện thư 勸善書 (books of edification; morality tracts) là một đặc chủng trong thư tịch Đạo giáo. Đó là những kinh sách dạy làm lành lánh dữ. Cát Nguyên Chiêu Trị 吉元昭治, tiến sĩ y khoa Nhật Bản, đứng trên góc độ y học mà cho rằng thiện thư cũng là một liệu pháp của Đạo giáo, cùng phát triển với các liệu pháp dân gian như: lên đồng (đồng cơ 童乩 còn gọi là vũ loan 武鸞), cầu cơ bút (phù cơ 扶乩 hay phù loan 扶鸞 [1]còn gọi là văn loan 文鸞), dược thiêm 藥簽 (những lá bùa để trị bệnh), thảo dược 草藥 (thuốc bằng cây cỏ rễ lá), v.v. [2]Thường thì y học chỉ trị thể xác chứ khó trị được tâm tình (y thân bất y tâm 醫身不醫心) nhưng thiện thư có thể y tâm.
-
TÂM KINH BÁT NHÃ
Quán-tự-tại Bồ-tát, hành thâm Bát-nhã Ba-la mật-đa thời chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Xá-Lợi-Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.
Xá-Lợi-Tử! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới, vô vô-minh diệc, vô vô-minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.
-
Hội ý bài kệ “Nhãn thị chủ tâm” của Đức Chí Tôn, thì Chánh pháp này cũng đặt tại Tâm thông qua mắt. Và nguyên tắc hành pháp là “cơ tại mục”, tức dụng Tâm làm chủ để để phối hợp công năng Âm Dương của hai mắt vào Thiên môn xuyên qua Thiên mục tại mi gian. Trong một đàn pháp tại Bát Nhã Tịnh Đường năm 1973, Đức bác Nhã dạy: “ . . .phải thêm một việc là khai chánh pháp nhãn tạng, là phải phối hợp nhựt nguyệt vào thiên môn”
-
Người Chăm theo hai tôn giáo chính là Bà la môn và Hồi giáo. Trong Hồi giáo lại chia ra Hồi giáo cũ (Bà ni) và Hồi giáo mới (Ixlam). Hai tôn giáo Bà la môn và Hồi giáo tồn tại độc lập, và trải qua quá trình lịch sử, đã hòa nhập với tín ngưỡng bản địa, tạo nên một thứ tôn giáo địa phương. Ngoài ra còn một số ít người Chăm còn theo đạo Công giáo và Tin Lành. Trong quá khứ Phật giáo từng đóng một vị trí khá quan trọng trong đời sống tinh thần của người Chăm, tồn tại và phát triển song song với đạo Bà la môn từ đầu thế kỷ trước công nguyên đến thế kỷ thứ IX
