Thống Kê Newsletter
Lần đầu đến với Nhịp Cầu Giáo Lý?

Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.

 
Có thể bạn chưa xem qua
  • hưa tiến sĩ Adler,

    Người ta luôn luôn viện dẫn kinh nghiệm, lý trí hoặc đức tin để hậu thuẫn cho những điều họ tin tưởng. Tôi hiểu lý trí và kinh nghiệm là gì, nhưng còn đức tin? Nó có phải là một bột phát cảm tính hoặc cơn dâng trào của tình cảm? Nó có đi ngược lại, hay có thể hòa giải được, với tất cả lý trí và kinh nghiệm? Các nhà tư tư tưởng lớn nói gì về đức tin?

    P.L.F.


  • TÂN PHÁP CAO ĐÀI
    1 Tổng quan
    2 Ý nghĩa Tân Pháp Cao Đài
    2.1 Chính Đức Thượng Đế mở TânPháp Cao Đài
    2.2 Chọn dân tộc Việt Nam để ban Tân Pháp Cao Đài
    2.3 Tân Pháp Cao Đài giải tỏa lớp vô minh, mở con đường tiến hóa
    2.4 Tân Pháp Cao Đài dụng thế thiên nhơn hợp nhất
    2.5 Tân Pháp Cao Đài con đường quy Tam giáo hợp Ngũ chi
    3 Phápmôn Tân Pháp Cao Đài
    3.1 Tân Pháp Cao Đài là pháp môn Đại ân xá
    3.2 Tân Pháp Cao Đài là pháp môn Tam Công
    4 Kết luận


  • Thương thay cho nhơn loại trong thời kỳ mạt kiếp này, cộng nghiệp đến giờ nên dịch bệnh lan tràn làm dấy động cả hoàn cầu. Hãy trọn thành, lấy công năng thiền định sẵn có của mỗi chư đệ, muội mà tích cực gia công hành trì, nguyện hồi hướng cho chúng sanh trong lúc này nghe.


  • Tóm Tắt Lịch Sử Phật Giáo / Wikipedia EncyclopediaTiếng Việt

    Tóm tắt các diễn biến trong lịch sử Phật giáo

    Sự phát triển của Phật giáo thời vua Asoka566-486 TCN: Thích Ca Mầu Ni (Siddhartha Gautama) đản sinh. Những nhiên cứu gần đây cho rằng Phật ra đời khoảng 490-410 TCN. Do đó, thời gian tính trong 500 năm đầu kể từ khi ra đời của Phật giáo sẽ không được chính xác, sự kiện chỉ ghi lại khoảng chừng.


  • Người giữ vườn / Thiện Hạnh

    Đức Ngọc Lịch Nguyệt thế danh là Lê Văn Lịch, sinh ngày mùng 1 tháng 9 năm Canh Dần (14-10-1890) tại xã Long An, huyện Cần Giuộc, Chợ Lớn (nay là tỉnh Long An). Trước khi trở thành môn đệ Cao Đài, Ngài tu theo Minh Đường đến phẩm Dẫn Ân (Nhị thừa), đạo hiệu là Lê Xương Tịnh. Ngày 26-4-1926, Đức Chí Tôn ban Thiên ân phong cho Ngài Lê Văn Lịch làm Đầu Sư phái Ngọc, thánh danh là Ngọc Lịch Nguyệt (lúc đó Ngài được 37 tuổi và là vị Tiền Khai Đại Đạo có tuổi đời trẻ nhứt thời bấy giờ và đây có thể xem như là một sự kiện đặc biệt của Ngài).


  • Vào mùa Giáng sinh năm nay (2013), trong khi khắp nơi đang hướng về kỷ niệm ngày xuống thế của Đức Giê-Xu-Ki-Tô thì được tin Cựu Tổng thống Nelson Mandela của Nam Phi qua đời. Hai sự kiện trùng hợp khiến chúng ta không khỏi suy ngẫm về ảnh hưởng của những nhân vật lịch sử.


  • Mùa tu Thu Phân năm Mậu Tý, chúng ta được hướng dẩn về "Rèn tâm vô niệm".

    Ngày 19.9.2008.

    Vô niệm là tắt đài, sự nghỉ ngơi toàn diệncủa bộ não, của thân tâm.

    Bộ não của chúng ta không chỉ có một mà cùng lúc phát nhiều tầng số vô tuyến. Dù lúc ngũ, đối với một số người, bộ nãovẫn có thể còn hoạt động : nhìn, nghe, hành động trong giấc mơ. Nên thức dậy mà mệt mõi, bần thần, rũ rượi vì có lúc còn cải lộn, đánh lộn trong giấc mơ.

    Xã cân là vô niệm, là cho bộ não nghĩ ngơi toàn diện nên thân tâm được thanh tịnh, không có một tư tưởng nào được dấy lên, đó là việc làm đầu tiên của hành giả trước khi bước vào công phu.


  • Này chư hiền đệ muội ! Thiền là tâm vô niệm. Định là dừng lại tất cả. Chỗ công phu này đòi hỏi hành giả phải ngày ngày tu tập để đến khi cần hòa hợp cùng vận khí cơ thiên, mới có đủ tinh thần mà phóng điển lực trong cuộc điều hành vận chuyển, từ nhơn thân đến vũ trụ. Nếu công phu còn hời hợt non kém, nhân thể còn bị bốn mùa tám tiết đổi thay, đời sống vật chất lại chi phối rất nhiều làm tinh thần mờ mịt, nên vào thiền, tâm chưa dứt niệm, thân thể nặng nề, tê nhức, ngứa ngáy đủ điều, định chưa được nên bị hôn trầm ngủ gà ngủ gật, ngồi lưng chưa thẳng nên tâm hỏa không thông, đầu cúi quá tầm thân cong nên thổi phù chưa suốt. Đó là bịnh chung của hành giả, nên chi công phu còn non kém, cần có tịnh đường kín đáo để tránh hàn khí tà độc nhiễm vào sanh bịnh.


  • Kiếp người / Đức Bát Nhã Thiền Sư & Đức Quan Thế Âm Bồ Tát

    Đức Bát Nhã Thiền Sư & Đức Quan Thế Âm Bồ Tát dạy tại Minh Lý Thánh Hội & Huờn Cung Đàn, năm 1974 và 1965


  • Nhắp chén trà sen vị ngạt ngào,
    Hương xuân nồng ấm thú tiêu dao,
    Kìa hoa hoa nở vì ai đó,
    Theo luật sinh tồn Đấng tối cao.


  • Đây trước tiên, Bần Đạo dạy Ban Thường Vụ:
    Chư hiền đệ là ở cấp lãnh đạo trong Cơ Quan, phải cố gắng thêm nhiều trong thời buổi nầy. Bần Đạo rất e ngại cho chư hiền đệ, khác nào lo cho một đoàn em đang đi trên bãi sa mạc, chẳng những thiếu phương tiện, còn bị ngoại cảnh biến muôn hình vạn trạng, làm cho cơ thể nhọc nhằn, tâm thần xao động, rồi phải lâm vấp vào một sự rủ ren ảo ảnh. Nhưng nếu chư đệ muội bình tĩnh để tìm nơi trí óc những lời các Đấng dạy trong hai năm qua, rồi sẽ sáng suốt và thấy rõ ràng một bức địa đồ, một kho lương thực, một bầu nước mát để cụ túc cho chư đệ muội trên viễn đồ thiên lý.


  • Bồ Tát Hạnh thể hiện bằng tâm hạnh và công đức, từ lời nói, việc làm, tụng niệm . . . đều luôn luôn hướng về sự lợi lạc bình an cho mọi người dù thân thuộc hay không thân thuộc. Bồ Tát Hạnh chính là tâm tự nguyện hiến dâng của người tu sĩ. Hiến dâng sở năng, sở hữu để đem lại sự an vui, bớt khổ cho nhân sanh, chứ không phải hiến dâng bất cứ điều gì cho các Đấng Thiêng Liêng. Thật ra sở năng, sở hữu của mỗi cá nhân dù tài trí siêu quần, sản nghiệp muôn xe không thể sánh được tứ vô lượng tâm Từ - Bi- Hỉ - Xả. Nên tu sĩ phát tâm hiến dâng để hiến dâng cuộc sống phàm phu hầu quyết chí tu tập đời sống đạo.














    Các con tuân lịnh của Thầy ban,
    Độ thế qua cơn thế khổ nàn,
    Đem tiết xuân gieo cùng khắp chốn,
    Để đời tận hưởng thú vinh quang.

    Đức Chí Tôn, Ngọc Minh Đài, 29-12 Bính Ngọ, 08-02-1967

    Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Nhịp Cầu Giáo Lý ngày một tốt hơn.


    Hãy gửi góp ý của bạn tại đây