Thống Kê Newsletter
Lần đầu đến với Nhịp Cầu Giáo Lý?

Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.

 
Có thể bạn chưa xem qua
  • NÓI VỀ CÁI TÂM / Cố Định Pháp Minh Thiện

    Tu hành giải thoát là phải tìm cách khế hiệp với Bổn thể.
    Để nêu cái tông chỉ vừa nói trên đó cho thiên hạ đặng biết, tôi có viết một đôi liển gắn nơi cửa ngỏ chùa Tam-Tông-Miếu như vầy :
    Sắc tiền bất sắc, tâm phương tịch,
    Không lý phi không, tánh thỉ tinh.
    Đó là nói ngay vào cái tâm Bổn-thể của chúng sanh là bất sắc (tức là không) và phi không (tức là có), mà xin đừng chấp có, chấp không theo thế tục, mới là mong vào con đường trung đạo để hiệp với tâm Bổn-thể của Trời-đất.
    Tam giáo đồng nguyên nghĩa là : cũng đồng dựa vào một cái gốc lớn nầy. Tam giáo in nhau cũng là giống nhau ở một chỗ đó.


  • Đức Giáo Tông Vô Vi Đại Đạo dạy:

    "Bần Đạo bảo chư Thiên ân đệ muội hãy ý thức về Tâm Hạnh Đại Thừa, đó là lẽ tất nhiên của hành giả

    -  về nhân vị

    -  về giá trị

    -  cũng như sự tu chứng tâm linh.

    Nếu trên bước Đại Thừa mà Hành Giả thiếu Tâm Hạnh Đại Thừa thì

    -  tâm đức sẻ mờ lu

    -  thường bị chư ma hàng phục,

    -  sanh sân si hỉ nộ, tật đố chủ quan.....

    -  Hằng bị lôi kéo vào cảnh vô thường mà không hay biết.
    Do đó chư hiền đệ muội phải thận trọng." (CQPTGLĐĐ, 15.Giêng Tân Dậu)



  • Lễ sanh / Huỳnh Văn Trọng Minh

    “Lễ Sanh là người có hạnh, lựa chọn trong chư môn đệ mà hành lễ. Chúng nó đặng quyền đi khai đàn cho mỗi tín đồ. Thầy dặn các con hiểu rõ rằng Lễ Sanh là người Thầy yêu mến, chẳng nên hiếp đáp chúng nó. Như vào đặng hàng Lễ Sanh mới mong bước qua hàng chức sắc. Kỳ dư Thầy phong thưởng riêng mới đi khỏi ngã ấy mà thôi…nghe à! Chư môn đệ tuân mạng.” ( Pháp chánh truyền)


  • Là hình thức với một số chữ nhứt định trong câu, có thể là mười hay mười ba, mười bốn, mười sáu, từ đó làm ra bài thơ tứ tuyệt thất ngôn (gồm 4 câu, mỗi câu có 7 chữ) đúng với niêm luật.


  • DẤU ẤN THỨ NHỨT: THƯỢNG ĐẾ LÂM PHÀM BẰNG LINH ĐIỂN KHAI ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
    DẤU ẤN THỨ HAI: TÔN CHỈ "TAM GIÁO QUY NGUYÊN, NGŨ CHI PHỤC NHỨT"
    DẤU ẤN THỨ BA: CỨU CÁNH "THIÊN NHƠN HIỆP NHỨT"


  • Hẹn ước với Xuân / Ban Biên Tập

    Lúc dương khí manh nha từ cuối Đông thì người nhạy cảm với tiết trời đã thấy mang máng một niềm vui, một sức sống nảy nở. Cảm nhận rồi, âm thầm chờ đón Xuân về.

    Thiên nhiên không tiếng không lời mà sao hành trình bao giờ cũng kịp thời tương hợp. Xuân vô tư nhưng nhiệt tình chung thủy, cứ đúng độ, Xuân lại về. Thử hỏi lòng người có chung thủy như Xuân ?


  • KHÁI LƯỢC VỀ CÔNG PHU

    Bài nói chuyện tại Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo

    ngày 15 tháng 3 năm Đinh Hợi (1-5-2007)

    Thiện Hạnh

    Tam công là phương pháp tu hành của người môn đệ Cao Đài trong Tam kỳ Phổ độ bao gồm công quả, công trình và công phu. Một cách khái quát, công quả là giúp đời tế chúng, công trình là rèn luyện thân tâm, còn công phu là tham thiền nhập định hầu đạt đến giải thoát tại trần gian và siêu xuất thế gian.


  • Sống ở thời đại mà "mọi lý tưởng đều bị chà nát và hủy hoại, khi con người phơi ra những mặt xấu xa nhất của mình, và người ra không biết có nên tin vào Thượng đế, vào sự thật và lẽ phải nữa hay không", nhưng Anne Frank lại cảm thấy "Bất kể mọi sự, mình vẫn tin là bản chất con người vẫn tốt đẹp".

    Chiến tranh - nhắc lên hai từ đó thôi cũng đủ gieo vào lòng con người bao nỗi sợ hãi, hoang mang, đủ gợi lên trong lòng những người còn sống và đang sống biết bao đau thương, mất mát.


  • Thái Cực Đồ Thuyết (Tiếp theo bài 2)


  • "Văn hóa là tất cả những cố gắng của con người để cải thiện nội tâm, gia đình, quốc gia, xã hội và hoàn cảnh, để con người có thể sống một cuộc đời khác với muông thú, một cuộc đời thanh cao, đầy đủ nhân cách nhân vị; và nếu có thể, một đời sống tự do tự tại, khinh khoát, thần tiên."


  • Những nỗi niềm nhân sinh mang ý nghĩa tríết học xuất phát từ sự phản tỉnh của tâm thức khao khát tìm kiếm lẽ thật của đời người đã dẫn dắt con người đi đến cảm nhận sâu sắc về nỗi cô đơn cũng như những bi kịch tất yếu của kiếp người để chấp nhận nó và hóa giải nó một cách “tùy duyên” bằng cái tâm trong sáng và an định. Mặt khác, những nỗi niềm nhân sinh mang ý nghĩa xã hội xuất phát từ sự phản tỉnh của tấm lòng lo đời thương dân đã mang đến cho con người trong thơ vẻ đẹp của sự quên mình và tận tụy. Nét đẹp nhân văn ấy phải chăng đã góp phần không nhỏ khẳng định nhân cách lớn lao của con người thời Đông A cũng như dấu ấn khó phai của một thời đại thơ ca một đi không trở lại.


  • Ấn giáo nêu lên bốn phương pháp giải thoát (moksha) gọi là yoga hay mârga.














    Đạo có gì đâu, đạo ấy Trời,
    Trời là Tiên Phật, cũng là người,
    Người hay giác ngộ thành Tiên Phật,
    Tiên Phật vọng tâm cũng xuống đời.

    Đức Quan Âm Bồ Tát, Trúc Lâm Thiền Điện, 20-10 Quý Sửu

    Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Nhịp Cầu Giáo Lý ngày một tốt hơn.


    Hãy gửi góp ý của bạn tại đây