Thống Kê Newsletter
Lần đầu đến với Nhịp Cầu Giáo Lý?

Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.

 
Có thể bạn chưa xem qua
  • Kể từ khi Đức Thượng Đế ban hồng ân khai mở Đại ĐạoTam Kỳ Phổ Độ, chọn nước Việt Nam làm Thánh Địa và dân tộc Việt được ban trao Sứ Mạng hoằng dương chánh giáo, người tin đồ Đại Đạo đã hòa mình vào tập thể để học Đạo, hành Đạo, từng bước tiến hóa với một ước mong tưởng chừng trong tầm vói của mình:  đó là khi sống làm lợi ích cho nhơn quần xã hội và khi thoát xác được trở về với Thầy Mẹ.  Nhưng đường tu hành nhiều cạm bẩy chông gai, khó khăn biết chừng nào, không phải ai cũng đạt thành ý nguyện vì chúng ta đang mang nhiều nghiệp quả từ tiền kiếp mà hiện kiếp thì có biết bao thử thách đang chờ đợi, vì vậy người tín đồ Đại Đạo cố gắng khép mình trong giới luật của Đạo Thầy.

    Cái cảm giác phải tái kiếp làm người, trở vào vòng luân hồi sanh tử thật đáng sợ và không ai muốn cả nên cùng quyết tâm đi trên đường mình đã chọn.


  • 4. Anh HOÀNG ĐÌNH LẬP, nguyên là thành viên của tập thể Thanh Thiếu Niên Phổ Thông Giáo Lý, sau khi từ trần đã được chuyển kiếp trở lại làm người. Trước khi đi đầu thai, anh được Ơn Trên ban đặc ân cho nhập đàn để có đôi lời bày tỏ cùng gia đình và các đạo hữu.


  • Phan Thanh Giản ra Kinh, vào triều lãnh chức Hàn Lâm Viện Biên Tu, rất lo lắng thấy bọn nịnh thần thì nhiều mà nguyời trung chính không được bao nhiêu. . .


  • Dịch Học Nhập Môn / Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

    Học Dịch có thể chia ra làm hai đường lối:

    1. Một là học gốc Dịch tức là chuyên khảo về Vô Cực, Thái Cực, tìm hiểu về nguồn gốc của vũ trụ và con người.
    2. Hai là học ngọn Dịch tức là khảo sát về lẽ Âm Dương tiêu trưởng của trời đất, tuần tiết thịnh suy của hoàn võ, tức là học về các Hào, Quải, học về Tượng, Từ, Số.

    Học Dịch theo lối thứ nhất sẽ giúp ta tìm lại được căn nguyên của tâm hồn và biết đường tu luyện để tiến tới Chân, Thiện, Mỹ, Phản bản, Hoàn nguyên.
    Học Dịch theo lối thứ hai có thể giúp ta tiên tri, tiên đoán phần nào vận hội, khí thế của lịch sử nhân loại, cũng như những động cơ biến hóa trong hoàn võ.


  • Quẻ Địa Thiên Thái gồm nội quái là Kiền và ngọai quái là Khôn, 2 quẻ đầu trong 64 quẻ Kinh Dịch. Thái có nghĩa to lớn, thông suốt, tốt đẹp, yên ổn

    -Tượng quẻ cho thấy, hạ quái là Kiền, tức Dương khí của Trời hạ xuống; thượng quái là Khôn, là Đất, tức Âm khí bay lên, thể hiện sự gặp gỡ giao hòa giữa Trời Đất, hiểu rộng ra là hai khí Âm Dương giao tiếp nhau, tượng trưng sự hanh thông trong định luật thiên nhiên.


  • Do đâu có hòa bình an lạc cho thế giới? / Thánh giáo Đức Mẹ & Đức Đạo Tổ

    Đức Vô Cực Từ Tôn:

    "Kìa con ! Đời đang loạn lạc, người  người mong vọng hòa bình, tôn giáo đang chia rẽ, tín đồ  đạo hữu mong vọng điều hiệp  nhứt, mà hòa bình do nơi  đâu hỡi con ? Hòa bình  hay hiệp nhứt, Đức  Thượng Đế đã ban  cho mỗi con từ  khi mới đến trần gian. Con hãy tìm đem ra mà sử dụng. Tâm con hòa bình, thế giới sẽ hòa bình, tâm con hiệp nhứt, tôn giáo sẽ hiệp nhứt. Các thứ ấy con không thể cầu ở tha lực tha nhân mà có đâu con ![1]


    [1]Thánh Thất Bình Hòa, 14 rạng Rằm tháng 8 Canh Tuất (14-9-70)


  • Đạo Cao Đài là một tôn giáo mới, được Đức Chí Tôn khai sáng vào đầu thế kỷ XX tại Việt Nam. Với quá trình truyền đạo chỉ hơn bảy mươi năm, nhiều kinh điển, thánh giáo đã được phổ biến khá sâu rộng.

    Từ năm At Tỵ 1965, Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo đã được Ơn Trên dìu dắt xương minh Giáo lý Đại Đạo trên nền tảng kinh điển Cao Đài từ thời sơ khai đến nay.

    Một trong những thành quả của Cơ Quan là quyển Cao Đài Vấn Đáp này, có mục đích giới thiệu Đạo Cao Đài một cách đơn giản bằng những giải đáp căn bản về nền Đạo.

    Quyển sách đã được thông qua Hội Đồng Nghiên Cứu Giáo Lý Cơ Quan sau khi sửa chữa hiệu đính nghiêm túc. Tuy nhiên những ý kiến xây dựng của chư vị sẽ góp phần hoàn chỉnh công trình này hơn nữa.

    Mong rằng quyển sách giúp ích được phần nào cho mọi tín hữu đạo tâm trên đường tìm hiểu Đạo Cao Đài.

    Đông Chí năm Kỷ Mão, 1999

    TM. Ban Thường Vụ

    Cơ Quan Phổ Thông Giáo LýĐại Đạo

    Hiệp Lý Minh Đạo

    CHÍ HÙNG


  • Người đời thường nói: "tạo tự thì dễ, tạo tăng (con người) mới khó". Nói như thế không có nghĩa là quên đi hai yếu tố Thiên và Địa. Vì thời Tam Kỳ Phổ Độ, Thầy cùng các Đấng thiêng liêng (Thiên) dùng huyền cơ diệu bút đem nguồn giáo lý tinh ba đến gieo giống trên mãnh đất Trời Nam - Địa linh sanh anh kiệt (Địa), còn lại yếu tố Nhơn là điều con người phải chuẩn bị, phải giải quyết để thực hiện được mục đích của Đại Đạo TKPĐ là Thế đạo đại đồng, Thiên đạo giải thoát.

    Ngày 13-10-1926 (mùng 7-9 Bính Dần) tờ Phổ Cáo Chúng Sanh đã được Đức Chí Tôn chính thức phê duyệt, đó là phương tiện vô cùng qúy báu hổ trợ chư vị tiền khai tuân hành thánh ý thực hiện việc phổ truyền nền giáo lý tân Tôn Giáo Cao Đài khắp lục Tỉnh. Chỉ trong vòng 1 tháng thực hiện phổ độ khắp Lục Tỉnh với Phổ cáo Chúng Sanh, số lượng tín đồ nhập môn đã từ con số chưa đến 300 tăng vọt lên đến mấy ngàn tín hữu. Đây cũng là yếu tố quan trọng đóng góp cho sự thành công của Đại lễ Khai Minh Đại Đạo tại Thiền Lâm Tự Gò Kén - Tây Ninh.


  • Mùa tu Hạ chí năm Mậu Tý, chúng ta được giảng về hai chữ "quyết tâm".

    NGÀY 27.5.MẬU TÝ.

    Thế nào là quyết tâm?

    Một thiền sinh được sư phụ cho nhập thất. Hết bảy ngày, thầy đến thăm và lắc đầu "ông hãy phấn đấu thêm thất nửa". Thời gian trôi qua hết thất thứ hai, thiền sinh cũng chưa đạt chút kết quả nào cả. Trước khi bước vào thất thứ ba, sư phụ dặn học trò "nếu sau bảy ngày, con không đến trình thầy, thì thầy biết con đã nhảy xuống sông rồi!" Tức là phải quyết tâm trong việc tu học, nếu không kết quả thì nhảy sông chết đi.

    "Sanh tử sự đại, tấn tốc vô thường" (sống chết là việc lớn, nó tới không biết lúc nào."

    Giải quyết được vấn đề sanh tử trước khi tắt thở, đó là việc làm của người tu, chứ không chờ khi chết mới biết.

    Quyết tâm tức là chuyên tâm dồn hết thời gian, tâm huyết, sức lực, để tu đạt kết quả. Người xưa dạy "chuyên tâm nhứt xứ, vạn sự bất biện". (chú tâm vào một việc, đó là cách giải quyết của mọi việc).


  • Khổng Tử là một trong vài nhân vật đã ảnh hưởng sâu xa đến lịch sử nhân loại bằng bản lĩnh nhân cách, tài năng trí tuệ, và những thành tựu cá nhân. Chúng ta không thể nào giải thích cặn kẽ được sự xuất hiện của các nhân vật như thế, nhưng nhờ xem xét các hoàn cảnh sinh bình của họ, ít nhất ta cũng có thể hiểu thêm về họ...


  • “Thành công không do những cái đã nắm đặng ở trong tay; thất bại không do những cái đã vuột khỏi tầm tay.”
    (Lý Giáo Tông)


  • Kinh thành Thăng Long là một tác phẩm vĩ đại dung chứa và biểu tượng của một tổng hợp Triết Lý độc đáo mà Thiền Sư Vạn Hạnh đã suy tư và dựng nên. Nó đặc trưng, thể hiện mọi phương diện từ Văn Hóa, Nghệ Thuật, Triết Lý, Chính Trị v.v… đâu đó đều in bóng dáng hùng vĩ của Vạn Hạnh, dù thời gian đã rêu phong, nhưng dấu chân người đã in đậm trên từng đường nét.














    Nên Người chẳng phải dễ gì đâu,
    Nên Phật Thánh Tiên lại khó cầu,
    Biết sửa một ly là đắc quả,
    Con ôi Diêu Điện Mẹ đang sầu.

    Đức Diêu Trì Kim Mẫu, Thiên Lý Đàn, 01-02 Mậu Thân, 27-01-1968

    Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Nhịp Cầu Giáo Lý ngày một tốt hơn.


    Hãy gửi góp ý của bạn tại đây