Thống Kê Newsletter
Lần đầu đến với Nhịp Cầu Giáo Lý?

Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.

 
Có thể bạn chưa xem qua
  • Tam giáo trong Cao Đài / Dũ Lan Lê Anh Dũng

    Với sự xuất hiện của Cao Đài tại cái nôi Việt Nam, không chỉ Tam Giáo truyền thống được phát huy và đổi mới thành Tam Giáo Đạo (Tam Tông), mà còn có sự xác lập một vị thế mới cho dân tộc Việt Nam trên diễn đàn tư tưởng, văn hóa đạo đức của nhân loại năm châu. . . .


  • Từ thuở khởi nguyên của đạo tức tôn giáo Cao Đài chúng ra, khi Đức Chí Tôn vừa thâu nhận xong hai nhóm đệ tử đầu tiên của Ngài thì Đức Từ Mẫu bèn đến với chư Tiền Khai trong khung cảnh Hội Yến Bàn Đào.
    Sự lâm phàm Khai Đạo của Thầy được biểu trưng bằng Thiên Nhãn, mà Thiên Nhãn cũng chính là ngôi Thái Cực hóa sanh vạn vật, vận hành vũ trụ.
    Sự lâm phàm của Mẹ được biểu trưng bằng cuộc hội yến trùng hoan.
    Một cung cách thống ngự, khai sinh của Thầy.
    Một cung cách gần gũi, vỗ về của Mẹ.
    Hình thức mở đạo đã bày tỏ thiên lý, thiên cơ.
    Mẹ là Vô Cực, là bản thể, là ngôi bảo tồn. Thầy là Thái Cực là ngôi Sáng tạo. Cho nên đứng về hiện tượng tôn giáo, khai Tam Kỳ Phổ Độ thì duy có Thầy là Giáo chủ. Còn về mặt cứu rỗi vô vi thì Đức Từ Tôn chưởng quản.


  • Chư hiền đệ hiền muội ! Bần Đạo vừa mới nói đến hướng về mục đích tối cao, chư đệ muội nghe qua có thấy lòng thích thú khi trỗi bước dậm dài thiên lý, có âm vang hòa nhịp đồng hành, hay thấy lòng phân vân ngăn ngại ? Mục đích cao thượng ấy xa hay gần, thực thể hay trừu tượng mông lung, cái thế an bài vĩnh cửu hay thế tựa tạm thời trước sự vật quá đổi thay. Có nghe được tiếng nói của lòng mới thấy mình có thực hay không có. Nếu đã thật có, mình biết mình, thì sứ mạng Thiên ân trong Tam Kỳ Phổ Độ này mới có thật ở chính mình.


  • Hãy tự biết mình / Thiện Chí

    "Hãy tự biết mình" là lời khuyên có ý nghĩa rất sâu xa từ ngàn xưa của các bậc minh triết.

    Đức Lão Tử sinh khoảng thế kỷ thứ VI trước CN, từng viết trong Đạo Đức Kinh (CH.33): " Tri nhân giả trí; tự tri giả minh." (Biết người là trí (khôn); biết mình là sáng suốt), nhằm đề cao đức tính tự biết bản thân, thành thật nhận định trung thực phẩm chất của chính con người mình, nên được gọi là "minh".Còn cái biết về kẻ khác là cái tri thức của giác quan hay kinh nghiệm, không cần có bản lãnh sáng suốt vượt trên tư ngã..

    Triết gia Hy lạp Socrates (399 – 470 TCN) cũng nổi tiếng với phương ngôn "Hãy tự biết mình" và tự khẳng định rằng : " Có một điều tôi biết chắc chắn là tôi không biết gì cả", ý nói cái biết thế giới hiện tượng không phải là cái biết đích thật, tức không phải chân lý.


  • 1. Nghiên cứu việc các tín ngưỡng hay tôn giáo chọn CON MẮT để thờ thần, người ta không khỏi ngạc nhiên từ thời Cổ Ai Cập (Predynastic Ancient Egypte 5.000-4.000BC) người Ai Cập xưa từng chọn con mắt làm biểu tượng thờ thần Horus. Thần Horus, theo tôn giáo Cổ Ai Cập là thần của cõi trời (sky god) có quyền năng bảo hộ (protection) và về chiến tranh (being the god of the sun, war and protection) . Đặc biệt, người Ai Cập cho rằng 2 con mắt của thần Horus thuộc về mặt trời (mắt phải) và mặt trăng (mắt trái). Họ đồng hóa mắt phải của Horus với thần mặt trời, thần Ra; và mắt trái với mặt trăng, thần Thoth . Hình tượng Horus trong các đền thờ là một nhân hình có đầu là đầu chim ưng (falcon). Do vậy, 2 con mắt của chim ưng làm tiêu biểu cho mắt thần Horus. Với xác tín này, một con mắt duy nhất đã đươc thiết kế làm biểu tượng chính cho thần Horus, nói lên đầy đủ quyền năng của vị thần là thần lâu đời nhất giữa các thần khác và là “quốc thần”


  • Bài nói chuyện của ĐH Phạm Văn Liêm ( Phó Chưởng Quản Cơ Quan Phổ Tế HT. Truyền Giáo Cao Đài) về cuộc đời, sự nghiệp của Cố ĐT. Huệ Lương Trần Văn Quế, nguyên Phối Sư Chủ Trưởng Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài, nhân buổi lễ Kỷ niệm Khai Minh Đại Đạo và Tưởng niệm Ngài (Tiên vị Quảng Đức Chơn Tiên)


  • "Ta gởi lời này cho tất cả nhân sinh trên cuộc đời đang có, từ dân tộc nghèo đói dốt nát mù mịt nhứt tới bầu trời đầy ánh sáng văn minh tiến bộ. Hãy rao lên tiếng nói của mục đồng giữa độ chiều tà đang chực chờ rủ bóng."


  • Chúng tôi rất ngưỡng mộ niềm tin Thương Đế (TH.Đ) hiện hữu mà diễn giả đã trình bày. Điều đó đã thúc đẩy chúng tôi muốn phụ họa đề tài Thượng Đế hiện hữu bằng những suy tư nhằm định vị Thượng Đế, hay nói dễ hiểu, đã xác tín TH.Đ hiện hữu thì làm sao biết TH.Đ. ở đâu mà tìm? Do đó chúng tôi mạo muội giới thiệu đề tài ĐỊNH VỊ THƯỢNG ĐẾ bằng một vài minh họa sau đây:


  • Trung Dung_1 / Lê Anh Minh phụ chú

    Thiên Trung Dung trong Tiểu Đái Lễ Ký tương truyền là sáng tác của Tử Tư, cháu nội của Khổng Tử. Cho nên thiên Khổng Tử Thế Gia trong Sử Ký nói: «Tử Tư viết Trung Dung.» Thiên Phi Thập Nhị Tử trong Tuân Tử xem Tử Tư và Mạnh Tử là một phái. Ngoài ra, những nghĩa lý được nói trong Trung Dung và Mạnh Tử thì tương đồng. Như vậy Trung Dung có lẽ do Tử Tư viết.


  • Quyền Pháp - tình thương và sự sống / Đỗ Thị Duyên, Thùy Nhiên, Đào Thiên Niên, Hương Lan

    Đỗ Thị Duyên, Thùy Nhiên, Đào Thiên Niên, Hương Lan

    Bài viết này là một phần trong đề án nghiên cứu "Quyền pháp – tình thương và sự sống", nhằm trình bày yếu điểm giáo lý "Quyền Pháp" bằng một ngôn ngữ gần gũi hơn với xã hội, sao cho người đời có thể nhìn thấy được những ứng dụng thực tiễn của chủ đề giáo lý này trong đời sống hàng ngày.

    Trong quyển Yếu Điểm Giáo Lý Đại Đạo, hai chữ "Quyền Pháp" được giải thích như sau: "Quyền là tình thương, Pháp là sự sống."[1] Còn trong Đạo Học Chỉ Nam, "Quyền là hình thức thể hiện trước đối tượng, Pháp là thể hiện trước bản thân"[2]. Mục đích của bài viết này là diễn dịch những định nghĩa như vậy bằng một cách thức đơn giản hơn, để xã hội dễ tiếp thu hơn.


    [1] Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, Yếu Điểm Giáo Lý Đại Đạo, tr. 89.

    [2] Đạo Học Chỉ Nam, chương 4, tiết 4, mục 1.


  • Trước khi Lão muốn chỉ đường vẽ lối cho các phận sự Ngọc Minh Đài, Lão muốn nói với toàn cả chư đệ muội rằng: Thế sự ngày nay không thể phân biện được ngày mai, vì bao nhiêu cảnh trạng mờ tối đã và đang luôn luôn diễn tả trước mắt mọi người, nào lợi danh, nào quyền tước, nào tiền bạc, nào truy hoan, thì còn định làm sao được, khi con thuyền ở giữa dòng khơi, chịu muôn ngàn sóng gió, tất cả mọi người đều nắm một giây được một giây, cầm một phút hay một phút, yên một ngày tự đắc một ngày, không tìm một lối thoát để nhìn một tương lai vĩ nghiệp đang chờ đợi huy hoàng, mà tất cả nhân sinh trong hoàn cầu đều có đặc phần của mỗi giống. Ví như ngày nay, chư hiền đệ, hiền muội đã hy thân hành đạo, tất nhiên hiểu đạo như thế nào, sẽ là con đường toàn thiện, toàn mỹ, sẽ là chiếc thoàn từ vững vàng trên sóng gió, sẽ là bảo đảm đời hiện tại, nên mới không nài gió mưa sương nắng, để đeo đuổi theo mục đích cao cả trên đời. Thật là hạnh phúc cho Nam Bang.


  • Theo Larousse, "thiền" có nghĩa là "trải qua sự quán tưởng sâu sắc, khảo sát, suy tư sâu sắc." Theo wikipedia, " từ ngữ "thiền" (meditatio Latin) đề cập đến một thực nghiệm trí não hoặc tinh thần thường là , nhưng không nhất thiết, là một sự chú ý vào một vấn đề thuộcvề tư tưởng như tập trung suy tư về một nguyên lý triết học , với mục đích đào sâu ý nghĩa của nó, hoặc tự suy nghĩ về mình để thực hành thiền quán hầu đạt đươc " bản tâm" của hành giả.Hai đạo truyền thống Trung Quốc, Khổng giáo và Đạo giáo, Phật giáo và các đạo Sufi của Hồi giáo phải chăng cũng là những hệ phái (những đường lối)Thiền"?














    Đạt đạo nhờ tâm chẳng vọng tâm,
    Muôn đường ngàn nẻo cũng do tâm.
    Hỡi ai giữ được tâm chuyên nhứt,
    Sẽ dứt phàm tâm lộ thánh tâm.

    Đức Bảo Pháp Chơn Quân, CQPTGL, 13-5 Tân Dậu

    Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Nhịp Cầu Giáo Lý ngày một tốt hơn.


    Hãy gửi góp ý của bạn tại đây