Thống Kê Newsletter
Lần đầu đến với Nhịp Cầu Giáo Lý?

Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.

 
Có thể bạn chưa xem qua
  • NGỌC kinh mở cửa đợi chờ ai ?
    LỊCH lãm đường trần chớ trả vay;
    NGUYỆT rạng ven Trời, tinh đẩu rạng,
    Mừng chư đệ muội cách bao ngày.


  • Kinh Cầu Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ( Ki-Tô giáo)

    Lạy rất Thánh đồng trinh Maria. Mẹ đã vui lòng nhận lấy tước hiệu là Mẹ Hằng Cứu Giúp cho được giục lòng chúng con trông cậy vững vàng thì con nài xin Mẹ dủ lòng thương cứu giúp con trong mọi nơi mọi lúc, khi phải các cơn cám dỗ, khi sa phạm tội và khi gặp các sự khốn khó trong đời con và nhất là trong giờ chết.


  • PHÁP MÔN / Phối sư Thượng Hâu Thanh

    TÂM THƯ CỦA ĐẠO TRƯỞNG
    PHỐI SƯ THƯỢNG HẬU THANH


  • Phục sinh / Thiện Chí

    "Phục Sinh" theo Tây phương có ý nghĩa tôn giáo dựa theo đức tin về sự sống lại của Christ, nghĩa là của một con người, con người "thiên ân".Trong khi đó, theo Đông phương. "phục sinh", từ Lão Tử Đạo Đức Kinh đến Kinh Dịch, đã được xem là một chuyển biến của Qui luật tiến hóa trong vũ trụ và nơi con người.


  • ĐẠO CAO ĐÀI VỚI DÂN TỘC / Phó Giáo Sư TS. Nguyễn Thanh Xuân

    Đạo Cao Đài ra đời ở Nam Bộ vào đầu thế kỷ XX, đến nay là một trong những tôn giáo lớn ở Việt Nam với khoảng 2,5 triệu tín đồ, tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Nam, nhất là các tỉnh Nam Bộ. Đạo Cao Đài ra đời như một hiện tượng tôn giáo độc đáo ở Việt Nam đầu thế kỷ XX với nhiều nét đặc trưng riêng khác. Một trong những đặc trưng tiêu biểu của Cao Đài là quá trình gắn bó với dân tộc.


  • Tranh Phật ở Nepal / BBCVietnamese.com

    Nepal tìm thấy tranh Phật. Việc tìm ra những bức tranh Phật được cho là có liên quan đến một cuộc tìm kiếm báu vật.Người ta đã tìm thấy một số bức tranh vẽ Phật từ khoảng thế kỷ 12 tại một hang động ở miền trung bắc của Nepal.


  • "Jésus Thánh Chúa đã từ lâu,

    Rửa tội nhơn sanh đổ máu đào,

    Dựng thế bằng lời thương tất cả,

    Ngàn xưa cho đến những ngàn sau."


  • "Bần Tăng muốn bảo với chư liệt vị đạo hữu như thế này: Các hình thức phô bày trong vạn hữu, các pháp biến hiện ở trần gian đều do nhân duyên của mỗi con người cấu tạo. Cảnh và tâm là hai mà một, một mà muôn ngàn duyên nghiệp chủng tử hằng sa. Thì giờ đã điểm đúng với Thiên cơ, tất cả mọi cái giả sẽ trở về với vạn vật để chi phối mà tạo nhân duyên, còn lại, nếu người giác ngộ ắt nhận thấy cái thực để nắm giữ và dưỡng nuôi cho trở thành một hột giống trên cõi tối thượng niết bàn hay vào nơi vô sinh bất diệt. Đó mới chính thực là Đạo, là quyền năng sở hữu của Tạo Hóa ban cho con người, và con người là một trong tam tài có thể huyền đồng thiên địa như Lão Tử, Thích Ca, v.v...
    Bần Tăng luận có hơi dài dòng, vì Bần Tăng muốn cái chân giá trị của các hàng Thiên ân hướng đạo trong Đại Đạo phải được biểu lộ một cách xứng đáng, và chân giá trị của người tín đồ đạo hữu trong Đại Đạo được thực sự chứng minh ở chỗ giác ngộ phi thường giữa cõi đời đầy chông gai cạm bẫy."


  • I. Vài nét về hành trạng của Đạt Ma Tổ Sư

    Đức Bồ Đề Đạt Ma 菩提達磨 (Bodhidharma, đầu thế kỷ 6 Công nguyên), người Ấn Độ, là tổ thứ 28 của Thiền Ấn Độ. Tổ sang Trung Hoa để truyền Phật pháp của Thiền tông và trở thành Đệ Nhứt Tổ Thiền Trung Hoa. Ngài đến Trung Hoa vào năm 520, gặp Lương Võ Đế 梁武帝 hỏi đạo. Rất tiếc Ngài không có duyên với vua Lương nên không thuyết phục được vua vì hai vị quan điểm bất đồng, Vũ Đế quá thiên về thinh âm sắc tướng, xây cất chùa chiền, in kinh độ tăng, còn Tổ lại chuyên về Tâm.

    Vì thấy không hóa độ được Lương Võ Đế và khó truyền Phật pháp đắc lực ở phương Nam nên Đức Đạt Ma Tổ Sư vượt sông Dương Tử, đi lên phương Bắc. Dừng chân tại Thiếu Lâm Tự, ngài ngồi xoay mặt ngó vào vách, tham thiền chín năm (cửu niên diện bích 九年面壁). Tương truyền Ngài bỏ thế gian năm 529, để lại rất nhiều huyền thoại, như: Đạt Ma cỡi nhánh lau vượt sông Dương Tử, Đạt Ma quảy chiếc giày phi hành trên dãy núi Thống Lãnh, v.v.


  • Trong các trích đoan thánh giáo trên, cho thấy Ơn Trên dạy rõ “ BÍ PHÁP là gì,” nhưng đồng thời cũng dạy về “ Pháp môn công phu thiền định” tức là đạo pháp. Thiển nghĩ sự “ ban trao bí pháp và tiếp nhận bí pháp” hàm ý bí pháp gồm chủ thể và đối tượng tương liên bằng một động tái kín nhiệm tại tâm. Các đối tượng phải tự tạo điều kiện “ tịnh khiết” thân tâm để nhận được “ bí pháp” : “Con người biết giữ được mực độ quân bình cho chính bản thân là tâm linh phải lo trau luyện cho thanh thoát, đừng để thất tình lục dục bao vây.( Đối tượng ”trau luyện” phải chăng thực hành đạo pháp hay pháp môn)
    Vậy toàn bộ những gì thuộc về cơ cứu độ Kỳ Ba, Bí pháp hay Đạo pháp đều nằm trong Chánh pháp Đại Đạo. TH.CH.


  • Trong nội bộ Cao Đài, mấy năm gần đây, thỉnh thoảng chúng ta có nghe bàn về ngày Khai Đạo, về ngày Khai Tịch Đạo. Có nơi (như Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài) chọn ngày mồng 1 tháng giêng (Tết Âm lịch) làm ngày Khai Đạo, có nơi (như Nam Thành Thánh Thất) cho rằng ngày 23-8 mới đúng là ngày Khai Đạo (và không đồng ý chữ Khai Tịch). Một số tác giả (như Đức Nguyên viết trong Cao Đài Từ Điển) lại có ý kiến khác.


  • Đề tài : Tham thiền để nghiêm khắc phán xét bản thân

    M LTH, Tuất thời Mùng 2 Thánh 4 Kỷ Dậu (17/5/1969 )














    Cõi trần thế bể dâu lắm lúc,
    Vòng trái oan câu thúc bao lần,
    Sắc tài danh lợi ái ân,
    Trăm năm ràng buộc tấm thân đọa đày.
    Sớm giác ngộ con quày bước lại,
    Phá vô minh đoạn máy luân hồi,
    Đạo là lẽ sống con ôi,
    Trong con thì Đạo, đất trời là tâm.

    Đức Diêu Trì Kim Mẫu, CQPTGL, 14-8 Nhâm Tuất

    Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Nhịp Cầu Giáo Lý ngày một tốt hơn.


    Hãy gửi góp ý của bạn tại đây