Thống Kê Newsletter
Lần đầu đến với Nhịp Cầu Giáo Lý?

Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.

 
Có thể bạn chưa xem qua
  • CHƠN TU / Chí Thật

    Trong một lần lâm đàn Thầy để lời gởi gắm đến chư môn đệ như sau:

    Bởi đời tạm xôn xao nhân sự,

    Biết Đạo rồi con giữ chơn tu,

    Mới mong thoát cảnh sương mù,

    Bao quanh con trẻ mờ lu linh hồn.


  • Từ thế kỷ I, I I, ba nền tôn giáo Nho, Thích, Lão đã sớm được nhân dân Việt Nam tiếp nhận và dung nạp.


  • Đạo là lẽ sống trong thường nhựt / Đức Quán Thế Âm Bồ Tát

    Đức Quán Thế Âm Bồ Tát dạy tại Tây thành Thánh thất Cần Thơ vào lúcTý thời 12.3.Kỷ Dậu (28.4.1969)


  • Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, Tuất thời Rằm tháng 10 Tân Hợi (2-12-71)

    THI

    CAO cả thay ! vi diệu thay !
    TRIỀU nguyên đại hội thế gian này;
    PHÁT huy nguồn sống chung nhơn loại,
    Cậy có thanh niên hiện hữu đây.

    [ . . .]
    Hỡi các em Thanh Thiếu Niên Phổ Thông Giáo Lý! Đứng trước tình thế đạo đời hiện tại, các em có băn khoăn, có ngỡ ngàng chăng trên đường phụng sự cho lý tưởng đời mình ? Thanh Thiếu Niên Phổ Thông Giáo Lý phải là cộng đồng lý tưởng. Nói cách khác là cộng đồng gương mẫu, làm thế nào xã hội trông vào nhận thấy đây là một xã hội an lành tiến bộ thu hẹp. . .


  • CAO DAI AT A GLANCE / BAN BIÊN TẬP

    . Who founded Caodaism?
    CaoDaism was founded in Vietnam at the beginning of the 20th century by Cao Dai, the Supreme God or the Jade Emperor1 through the chronological events as follows:
    – At the beginning of 1921, by means of the spiritism, the Supreme God revealed Himself through the mystical name “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”, nd officially accepted Ngô Văn Chiêu as the first disciple.
    – On December 16th, 1925 (i.e., the first day of the eleventh month of the lunar year Ất Sửu), Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, and Cao Hoài Sang set up an altar to worship the Supreme God. Then, on December 19th, 1925, He congratulated them, “How lucky you are when following Caodaism.” [should check with the Vietnamese text].
    At Christmas Eve of 1925, The Supreme Being revealed Himself :
    “I am the Jade Emperor - Supreme God - Caodai Immortal - Great Bodhisattva - Mahatattva, teaching the Way in the Southern Quarter”.
    “I am the eternal authority.
    You get My favor by practicing the Way.
    When the miraculous Way iss pread throughout the world.
    Your names will become everlasting. .”
    (Collection of Divine Messages, vol.1, 1973, p.5)
    Thus, Caodaism was founded by the Jade Emperor - Supreme God or Cao Dai Immortal - Great Bodhisattva - Mahatattva.


  • Khai Minh Đại Đạo là một trong vài lễ trọng hàng năm của Cao Đài giáo. Như lời hướng dẫn của Thiêng Liêng, khi tổ chức một lễ kỷ niệm nào là dịp ôn lại truyền thống cùng nâng cao lòng quyết tâm tiếp nối sự nghiệp của người đi trước. Năm nay, để thành tâm hiến lễ Kỷ Niệm Khai Minh Đại Đạo, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại bài học ẩn chứa trong những chi tiết sự kiện đã diễn ra trong đại lễ.


  • Duy tuệ thị nghiệp / Huỳnh Ngọc Chiến

    Tư tưởng Đức Phật như một buổi đại yến tiệc, mà nói như nhà thơ Bùi Giáng, chỉ cần một hạt cơm thừa trên bàn tiệc đó cũng quá đủ để chúng ta thụ dụng suốt bình sinh. Điều đó ta càng dễ dàng cảm nhận khi đi sâu vào thế giới kinh điển Phật giáo.
    Không cần đến cảnh giới hoành tráng được mô tả trong kinh Hoa Nghiêm hay tư tưởng siêu việt được diễn đạt trong kinh Đại Bát Nhã, vốn là những thứ có thể làm cho những kẻ sơ cơ như chúng ta khiếp hãi, mà ngay những câu kệ đơn giản mộc mạc trong kinh Pháp Cú hay kinh Phật thuyết Bát Đại Nhân Giác cũng khiến chúng ta cảm nhận được chiều sâu thăm thẳm, khi chúng ta đọc những trang kinh đó bằng những suy niệm chân thành.
    Trong phần cuối của bài kệ thứ ba trong kinh Phật thuyết Bát Đại Nhân Giác, Đức Phật dạy rằng, bậc Bồ tát cần phải: "Thường niệm tri túc, an bần thủ đạo, duy Tuệ thị nghiệp”. (Thường nghĩ đến việc biết đủ, yên trong cảnh nghèo mà giữ đạo, chỉ lấy việc đạt đến tuệ giác làm sự nghiệp đích thực của mình). Kinh Phật thuyết Bát Đại Nhân Giác rất ngắn, chỉ gồm tám bài kệ ngắn nói về tám điều giác ngộ lớn, song chỉ cần một phần của bài kệ thứ ba này cũng đủ làm kim chỉ nam cho những ai thành tâm tu học, muốn đi vào thế giới của Phật đà.


  • Tất cả vũ trụ vạn hữu là một trường dịch hóa miên miên bất tuyệt, sinh động vô cùng. Nên Dịch, Hệ Từ, có câu: "Sinh sinh chi vị dịch". Nếu nói sanh ra rồi chết, chết rồi lại sanh thì con người có thấy nghĩa lý gì, thú vị gì mà còn có gì hữu ích chăng ?


  • Những năm cuối của thế kỷ XX có nhiều nhà nghiên cứu đã tiên đoán rằng thế kỷ XXI sẽ mở sang một kỷ nguyên mới, đó là kỷ nguyên của tâm linh. Nếu đúng như thế, thật rất mừng, vì chúng ta là những người có đức tin, đang cố gắng rèn luyện tâm linh  để được tiến hóa. Nhưng để được tự tin và đức tin được vững vàng, chúng ta tự hỏi đó có phải là những suy diễn hay những ảo tưởng vô căn cứ của một số nhà nghiên cứu không?

    Thật ra, nếu xét kỹ lịch sử nhân loại cũng như lịch sử văn hóa, văn minh hay những chu kỳ tiến hóa của nhân loại thì luận cứ trên cũng không có gì mới lạ. Bởi vì "Vật cùng tất biến" và "Âm cực dương sinh". Hai câu nói ngắn ngủi ấy tuy đơn giản nhưng là những nguyên lý, những quy luật chi phối toàn thể vạn vật, vạn sự trong vũ trụ. Vũ trụ dịch biến, tinh thần và vật chất tất cả đều nằm trong quy luật ấy, lặp đi lặp lại theo thời gian bằng những chu kỳ không ngừng nghỉ, nghĩa là cùng rồi biến, biến rồi thông, tạo thành lịch sử, mà lịch sử là gì? _ Lịch sử là cuộc biến thiên, là hành trình tiến hóa của vạn vật chúng sanh.


  • Nhân sinh thành Phật dễ đâu
    Tu hành có khổ rồi sau mới thành.
    Hai câu thơ trong thi truyện về cuộc đời của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát vừa mở đầu cũng vừa mang ý nghĩa của một kết luận. Có gì đặc biệt trong cuộc đời của Đức Quán Thế Âm?
    Chúng ta biết về Đức Quán Thế Âm trong Nhất Kỳ và Nhị Kỳ Phổ Độ là nhờ lời Đức Thích Ca Mâu Ni dạy trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Thích Phước Nhơn, Pháp Hoa Yếu Giải, Phổ Quang, 1995..


  • QUỐC SƯ VẠN HẠNH / TT. Thích Quảng Tùng

    Quốc sư Vạn Hạnh và PG thời Lý đóng góp vào sự nghiệp hộ quốc an dân
    TT. Thích Quảng Tùng
    Phật giáo truyền vào Việt Nam theo các thuyền buôn từ Ấn Độ đến bằng gió mùa Tây Nam và về bằng gió mùa Đông Bắc. Theo sử sách ghi chép thì Trung tâm Phật giáo Việt Nam có từ đầu Công Nguyên tại Luy Lâu, Bắc Ninh.
    Với tinh thần khế lý, khế cơ và tùy duyên bất biến Phật giáo đã hội nhập vào văn hóa bản địa về thờ cúng tổ tiên của người Việt để thành Phật giáo Việt Nam, nổi bật là tín ngưỡng Tứ Pháp.
    Trong bối cảnh gần 1000 năm Bắc thuộc, Phật giáo Việt Nam sống trong lòng dân tộc, hòa mình cùng dân tộc. Nên khi đất nước bị nô dịch hà khắc thì Phật giáo cũng bị suy vong. Và cũng từ đó mà hun đúc nên các Thiền Sư vừa uyên thâm về nội điển vừa mang tư tưởng đấu tranh giành độc lập cho dân tộc như Thiền Sư Định Không, Cảm Thành và La Quý v.v…
    Vào cuối thế kỷ thứ bảy, các Ngài đã dùng sấm vĩ để xác định tương lai của Đất nước và Phật giáo. Để vận động Phật tử, tín đồ và nhân dân đoàn kết lại cùng các trí thức đương thời phù Vua Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành đánh tan quân đô hộ phương Bắc, giành độc lập cho Đất nước, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc và đạo pháp vào cuối thế kỷ thứ 10.


  • Suy ngẫm mùa tu Hạ Chí














    Xuân đến con vui với tiết xuân,
    Hãy đem đạo lý độ người trần,
    Trong cơn mê muội xa ngôi vị,
    Thức tỉnh lên đường học thánh nhân

    Đức Chí Tôn, Ngọc Minh Đài, 29-12 Bính Ngọ, 08-02-1967

    Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Nhịp Cầu Giáo Lý ngày một tốt hơn.


    Hãy gửi góp ý của bạn tại đây