Thống Kê Newsletter
Lần đầu đến với Nhịp Cầu Giáo Lý?

Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.

 
Có thể bạn chưa xem qua
  • Trong quá trình phát triển theo thời gian, hầu như không có tôn giáo nào thoát khỏi tệ nạn phân hóa. Tuy nhiên, có tôn giáo phân hóa trong hòa bình, như đạo Phật chẳng hạn cũng có sự phân hoá nhưng không có sự cực đoan (Đại Thừa, Tiểu Thừa Nam Tông Bắc Tông không bao giờ chém giết nhau). Trái lại, hầu hết các đạo độc thần đã đi đến sự phân hóa sau các cuộc xung đột gay gắt và luôn luôn kéo theo các cuộc "thánh chiến" đẫm máu trong nhiều thế kỷ. Điển hình là sự phân hóa củaThiên chúa Giáo La Mã:Thiên chúa Giáo Đông Âu tách rời năm 1052 để biến thành Chính Thống Giáo, Công Giáo Anh ly khai trong thế kỷ 16 biến thành Anh Giáo và phong trào cải cách tôn giáo do Luther khởi xướng vào đầu thế kỷ 16 cũng đưa đến sự ly khai khỏi Thiên chúa Giáo La Mã để hình thành các giáo phái Tin Lành. Tất cả các tôn giáo và giáo phái ly khai đều bị Thiên chúa Giáo dùng sức mạnh quân sự đàn áp trong máu lửa.


  • Người chèo đò ở Sangam chỉ xuống dòng nước đục ngầu của sông Hằng, nơi gặp dòng nước màu xanh lục của sông Yamuna.

    Dòng sông thứ ba, Saraswati huyền bí chảy dưới lòng đất, ông nói.

    Đây là nơi linh thiêng nhất trong Ấn giáo, ngã ba sông, nơi người ta đến tắm để gội rửa tội lỗi của họ.

    Hàng ngàn chiếc thuyền chật vật tìm chỗ neo. Trên thuyền là hàng chục ngàn người sẽ xuống tắm dưới sông trong mùa lễ Kumbh kéo dài trong sáu tuần.
    Tiếng chim hải âu lượn trên không hòa với tiếng nhạc phát ra từ các loa phóng thanh giữa những lời thông báo liên tục được loan đi để tìm người thất lạc.


  • Yếu tố quyết định của hạnh là tâm.

    Sau khi nhập môn, chúng ta phải có ngôn ngữ, cử chỉ khác hơn hôm trước, Ơn Trên dạy phải "khác hơn người thế tục". Đó là tác phong đạo hạnh.

    Hạnh là sự thể hiện của tâm, đức bên trong hành giả qua ánh mắt, khuôn mặt, lời nói, hành động. Đức Cao Triều Tiền Bối dạy "Tâm đức là bát nhã thoàn đưa người qua bĩ ngạn. Tác phong đạo hạnh gây sự cảm mến đến nhơn tâm giác ngộ."[1]

    Đức Mẹ dạy:

    "Tiền nhân xưa chỉ đoan sửa tánh,

    Mà kết chung nhập thánh siêu phàm;

    Nay con đạo hạnh vững cầm,

    Dày công tu sửa sẽ làm Phật Tiên."[2]


    [1] CQPTGL, 11-02 nhuần Ất Sửu.

    [2] CQPTGL, 03-8 Mậu Ngọ.


  • Thanh Tĩnh Kinh / Lê Anh Minh dịch và phụ chú

    清 靜經
    Thanh Tĩnh Kinh

    ● Lê Anh Minh dịch & chú thích

    Kinh này có tên gọi đầy đủ là «Thái Thượng Lão Quân Thuyết Thường Thanh Tĩnh Kinh» 太上老君說常清靜經, còn có tên là  «Thái Thượng Hỗn Nguyên Thượng Đức Hoàng Đế Thuyết Thường Thanh Tĩnh Kinh» 太上混元上德皇帝說常清靜經, «Thường Thanh Tĩnh Kinh» 常清靜經, hay «Thanh Tĩnh Kinh» 清靜經. Nội dung của kinh là giải thích sự diệu dụng của thanh tĩnh. Để đạt sự thanh tĩnh thì người tu phải «tam quán»: nội quán (nhìn vào trong), ngoại quán (nhìn ra ngoài), và viễn quán (nhìn ra xa). Tam quán để thấy vạn vật đều là không; tức là «trừng tâm» (làm trong sạch tâm) để diệt trừ vọng tâm, diệt trừ phiền não.

    Tác giả của bản kinh này chưa rõ là ai. Có thuyết cho rằng đó là Cát Huyền 葛玄 (164-244); có thuyết cho rằng tác giả là một đạo sĩ ẩn danh, sống vào đời Đường (618-907) hoặc Ngũ Đại (907-1279). Bản kinh này (có lời chú của Thuỷ Tinh Tử 水精子) đã được đưa vào «Chính Thống Đạo Tạng» 正統道藏. Đây là bản kinh được giới Đạo sĩ rất xem trọng. Giáo phái Thanh Tĩnh Phái 清靜派 của Toàn Chân Đạo 全真道 quy định đây là bản kinh nhật tụng của đạo sĩ bản môn, nên bản kinh được lưu hành rất rộng và có nhiều bản chú thích của các nhà như: Đỗ Quang Đình 杜光庭, Thuỷ Tinh Tử 水精子, Hỗn Nhiên Tử 混然子, Hầu Thiện Uyên 侯善淵, L‎‎ý Đạo Thuần 李道純.●


  • Dưới đây là một vài trích dẫn về phong trào xã hội hóa học thiền và tập dưỡng sinh tại các nước phương Tây.
    Họ đang đưa thiền đến trường học cho trẻ em,
    Họ giới thiệu thiền phổ cập trên mạng, biểu diễn dưỡng sinh ở cà các hội chợ, các sinh hoạt xã hội đông người. . .

    Qua đó, chúng ta suy nghĩ về thánh ý nhấn mạnh hai chữ “phổ độ” trong mục đích ĐĐTKPĐ “Thế đạo đại đồng, thiên đạo giải thoát” đối với toàn thể nhân loại . . .


  • Đời Đạo Song Tu / Thiện Hạnh

    "Thiêng Liêng thường nói: Cõi đời là chốn phù du, là sông mê, là giả tạm. Đừng ai quá chấp ngã mà ôm chầm lấy nó để rồi hủy hoại bước đường tiến hóa. Có người nghe nói như vậy, đương làm ăn kinh doanh sự nghiệp, đương trong cảnh phu ấm thê vinh, phụ tử tương phùng, rồi vội vàng dứt bỏ tất cả để tìm cái không. Trong lúc đó cũng có những người không tin, mãi đắm đuối mê say ôm ghì lấy cái giả tướng ấy. Cũng ví như người lữ khách muốn đến vùng Mỹ Châu mà lại ôm ghì lấy chuyến tàu hỏa tốc hành từ miền Nam đến Đông Hà, v.v. Hai người ấy ở hai hoàn cảnh và hai tâm trạng đều trật hết, ấy là sai lý đạo."

    Lý thuyết về trung đạo dạy con người không nên thái quá cũng không nên bất cập mà phải hài hòa trong cuộc sống. Thực hành bổn phận và trách nhiệm đối với cuộc đời cũng chính là thực hành đạo lý một cách rốt ráo. Cuộc sống nhân sinh và tâm linh có luôn hòa quyện lẫn nhau, quân bình với nhau thì cuộc sống con người mới an vui, hạnh phúc, và có ý nghĩa.

    [Hình: Các Hội thánh & Cơ Quan đạo Cao Đài cứu trợ bảo ở Bến Tre]

    [1]Đức Giáo Tông Đại Đạo, thánh thất Tây Thành, 14-3 Canh Tuất (18-4-1970).


  • Cao Đài Vấn Đáp / Cơ Quan PTGLĐĐ

    1. Đạo Cao Đài do ai sáng lập ?

    Đạo Cao Đài do Đức Cao Đài Thượng Đế tức Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế mà Thiên Chúa giáo gọi là Đức Chúa Trời,11 Do Thái giáo gọi là Đức Jéhovah ; Hồi giáo gọi là Đức Alah sáng lập tại nước Việt Nam vào đầu thế kỷ XX qua các sự kiện chính yếu sau đây :

    - Vào đầu năm 1921, qua phương tiện thông linh bằng cơ bút (giáng cơ), Đức Thượng Đế lần đầu tiên xưng danh là "Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát" và chánh thức thâu nhận Ngài Ngô Văn Chiêu làm đệ tử đầu tiên.

    - Sau khi các vị Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang vâng lịnh làm lễ vọng thiên cầu đạo vào ngày mùng 1 - 11 - Ất Sửu (16-12-1925); ngày 19-12-1925 Đức Thượng Đế giáng cơ mừng cho các Ông :

    "Mừng thay gặp gỡ Đạo Cao Đài"

    Đêm Lễ Giáng Sinh 24-12-1925, Ngài giáng cơ dạy như sau:
    "Ngọc Hoàng Thượng Đế Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát Giáo Đạo Nam Phương,

    "Muôn kiếp có Ta nắm chủ quyền,
    Vui lòng tu niệm hưởng ân thiên;
    Đạo mầu rưới khắp nơi trần thế,
    Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên."
    (TNHT, QI,1973, tr.5)
    Vậy Đạo Cao Đài do Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế tức Đức Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát sáng lập.


  • Nếu có dịp chứng kiến đại lễ Khai Minh Đại Đạo vào năm Bính Dần 1926, có lẽ đại đa số nhân loại đều cho rằng đó là sự ra đời của một tôn giáo. Không ít tín đồ Cao Đài cũng nghĩ rằng đó là lễ ra mắt tôn giáo Cao Đài trước nhân sanh.
    Nhưng tại sao, trong toàn Đạo – từ các đấng Thiêng Liêng cho đến con người – ngày lễ này lại được gọi là “Khai Minh Đại Đạo” (hay ngắn gọn hơn, “Khai Đạo”), chứ không gọi là “Khai Minh Cao Đài”?
    Đức Vạn Hạnh Thiền Sư đã dạy:
    “Người vẫn tưởng Cao Đài - tôn giáo,
    Nào hay đâu Đại Đạo hoằng dương.” (1)


  • Tu kỷ - đãi nhân / Lê Anh Minh dịch

    9. TU KỶ  修 己 – ĐÃI NHÂN  待 人

    191. Xí giả bất lập, khóa giả bất hành. Tự hiện giả bất minh; tự thị giả bất chương; tự phạt giả vô công; tự căng giả bất trường. Kỳ ư Đạo dã, viết dư thực chuế hành, vật hoặc ố chi. Cố hữu Đạo giả bất xử. [Đạo Đức Kinh, chương 24]

    【Dịch】 Nhón chân lên, không đứng được. Xoạc chân ra không đi được. Tự coi là sáng nên không sáng. Tự xem là phải nên không hiển dương. Tự kể công nên không có công. Tự khoe mình nên không trường tồn. Về phương diện Đạo mà nói, đó là các thứ thừa thải. Có người ghét chúng. Nên người có Đạo không màng.


  • Trước Tết nguyên đán, mỗi độ đón chào Xuân mới chúng ta thường nhắc đến phong cách thưởng Xuân Cao Đài.

    Đó là phong cách bình dị thâm trầm của người học đạo, lấy Tâm Xuân dịu hòa cởi mở để đối đải với khí vận đổi mới hân hoan của người, của cảnh; thay vì đua chen hội hè đình đám.


  • Nhìn lại lịch sử nhân loại song song với lịch sử các tôn giáo, ta thấy chỉ trong thời Tam Kỳ Phổ Độ mới có sự hi hữu là Đức Chí Tôn thân hành mở đạo phổ độ quần sanh.
    Ngài là “Tột đỉnh” của “Nhất nguyên”. Sự lâm phàm của Ngài là tất yếu cho thời kỳ “Qui nguyên phục nhất” khi thế gian đã đến giai đoạn cực kỳ phân hóa và ở bên thềm thoái hóa. Nhưng không phải Ngài đến để tỏ ra hiện hữu mà đến để thể hiện và thực hiện trọn đủ cái phạm trù: “Thượng Đế - Đạo - Chúng sanh”.


  • Kiếp người / Đức Bát Nhã Thiền Sư & Đức Quan Thế Âm Bồ Tát

    Đức Bát Nhã Thiền Sư & Đức Quan Thế Âm Bồ Tát dạy tại Minh Lý Thánh Hội & Huờn Cung Đàn, năm 1974 và 1965














    Người giác ngộ vun bồi tánh đạo,
    Bậc nguyên căn hoài bão ý Thiên,
    Vào đời một chí nhẫn kiên,
    Thực thi sứ mạng pháp quyền dựng xây.

    Đức Giáo Tông Đại Đạo, CQPTGL, Rằm tháng Giêng Tân Dậu

    Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Nhịp Cầu Giáo Lý ngày một tốt hơn.


    Hãy gửi góp ý của bạn tại đây