Thống Kê Newsletter
Lần đầu đến với Nhịp Cầu Giáo Lý?

Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.

 
Có thể bạn chưa xem qua
  • Tu học trong nhà Đạo Kỳ Ba, cho dầu khác hội thánh, khác địa phương chúng ta đều được dạy một nội dung chủ yếu: con người là tiểu linh quang xuất phát từ nguồn gốc Đại Linh Quang là Thượng Đế


  • Tâm thanh tịnh / Sưu tầm

    Muốn đạt kết quả trên con đường Thiên Đạo Đại Thừa phải giữ lòng thanh tịnh... Tâm thanh tịnh là điều cần trước nhất.


  • 1. * Ngọc Trì là ai?


    Trong
    việc hành công, miệng con người không gọi là khẩu mà gọi là Ngọc Trì
    (ao ngọc). Trong miệng có hai suối nước là Ngọc Tuyền, xuất phát cam lồ
    là Ngọc dịch, đây là Tiên dược của hành giả chỉ có khi thanh tịnh trong
    thời thiền.

    Cơ thể con người
    có một cấu tạo đặc biệt, mắt của chúng ta cho được mà miệng không cho
    được. Cho nên miệng là ta, ta là miệng. Ngọc Trì là chính chúng ta trên
    đường tu, tuy hai mà một. Ngọc Trì lên đường tu là cách nói hình tượng
    nhân cách của chủ đề CẨN NGÔN.

    Đạo Trưởng Huệ
    Lương có kể chuyện về thời Khai Đạo tại Thánh Thất Cầu Kho. Trong một
    thời cúng, các Đấng Tiền Khai đang đọc kinh trên bửu điện thì dưới trù
    phòng có tiếng cải cọ lớn tiếng. Tiền Bối Đòan Văn Bản bước ra và xuống
    bếp khuyên giải "Xin chị để cho các anh lớn dâng lễ xong rồi có chuyện
    gì thì nhờ phân xử". Bà tiếp tục hét "không chờ gì hết!", rồi tự nhiên
    nín luôn.

    Mỗi
    ngày người ta thấy bà đánh một dấu phấn ở gốc cột. Đủ ba năm bà mua một
    hủ tương đến gặp Ngài Đòan Văn Bản, chỉ vào hủ tương rồi chỉ ra hướng
    Vũng Tàu. Ngài Đòan Văn Bản hỏi "chị muốn chúng tôi đưa chị ra Long Hải
    gặp anh lớn Nguyễn Ngọc Tương phải không? Bà gật đầu.

    Ngài
    Đòan Văn Bản mua vé xe đò, đưa bà ra quận Đất Đỏ vào gặp Ngài Nguyễn
    Ngọc Tương (lúc bấy giờ Ngài đang làm chủ quận Đất Đỏ). Sau khi nghe tự
    sự Đức Nguyễn Ngọc Tương mời Ngài Đòan Văn Bản và đương sự cùng lên
    cúng thời ngọ. Trước khi xã đàn Đức Nguyễn Ngọc Tương lấy nước âm
    dương, cầu nguyện Ơn Trên và đưa cho bà uống, ngay tức thì bà nói ngay
    "con xin cám ơn Ơn Trên tha tội, từ đây con xin cẩn ngôn, cẩn hạnh".

    Chúng ta tu, miệng chúng ta phải tu theo, đó là Ngọc Trì lên đường tu.


  • “Xuân, xuân đến, muôn phần nô nức,
    Xuân là chi vạn vật đón chờ?
    Xuân về có rượu có thơ,
    Có câu chúc tụng, có giờ nghỉ ngơi…” (1)
    Cứ mỗi độ xuân về, nhân thế lại rộn ràng đón xuân. Chẳng mấy ai thắc mắc rằng xuân là gì mà mình phải đón. Dù giàu hay nghèo, nhà nào cũng đón, đón một cách tự nguyện, chân thành, thiết tha, nồng nhiệt. Thế nhưng, “xuân là chi vạn vật đón chờ?”
    Nếu hiểu được bản chất của xuân thì không chỉ đón xuân và thưởng xuân, chúng ta còn có thể tạo ra được một mùa xuân mà nhà nhà đều mong đợi: mùa xuân trong thế nhân hòa.


  • Một năm có bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông. Có 8 tiết : Lập Xuân, Xuân Phân, Lập Hè, Hè Chí, Lập Thu, Thu Phân, Lập Đông, Đông Chí. Năm nay mùa tu Đông Chí lại đến, chúng ta dừng chơn lại đôi khắc để xét nghiệm, dự trù công việc mình sẽ làm gì hữu ích cho thân tâm trong mùa tu Đông Chí nầy.


  • Trong quá trình tu học và truyền bá nền đạo, người tín hữu Cao Đài cần nắm vững những đặc điểm của tôn giáo mình để cũng cố đức tin đồng thời giải đáp chuẩn xác sự tìm hiểu của mọi giới.


  • Trước hết, chúng ta có thể mạnh dạn khẳng định thực tế “đa dạng tôn giáo ở Việt Nam”. Những công trình nghiên cứu bối cảnh tôn giáo lịch đại và đương tại ở cả ba Miền Nam Trung Bắc Việt Nam, và qua đề tài này cho phép chúng ta phát biểu như trên.
    _ Nhất là ở Nam Bộ, các nghiên cứu tôn giáo bản địa như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Hòa Hảo, Phật giáo Tiểu thừa-Khờme, Thiên Chúa giáo, Tin Lành . . . và Cao Đài cho thấy rất rõ nét tính đa dạng tôn giáo ngay tại miền này .


  • "Văn hóa đạo đức có những gì tốt đẹp sâu sắc trong lãnh vực triết học, đạo lý, thần linh học, từ nhân sinh quan đến vũ trụ quan; sự liên hệ giữa Trời và người, sự liên hệ giữa Trời và vạn vật; sự liên hệ giữa con người và con người, sự liên hệ giữa con người và vạn vật..".


  • Trong dân gian không biết tự bao giờ đã hình thành câu ca dao : “Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ” để nhắc nhở nhau ngày lễ tưởng niệm Cha là Đức Thánh Trần Hưng Đạo ngày 20.8 âm lịch, và kỷ niệm Mẹ là Đức Liễu Hạnh Thánh Mẫu vào ngày 3.3.Âm lịch.

    Hàng năm, lễ Vía Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh được tổ chức trang trọng tại tất cả những nơi nào có đền thờ Ngài, trải dài trên khắp đất nước Việt từ Bắc chí Nam nhưng đặc biệt nhất, tại Phủ Giầy, tên gọi vùng đất tương truyền là quê hương Ngài, lễ hội được tổ chức trọng thể kéo dài từ mồng 1 tháng 3 cho đến hết mồng 10 tháng 3 gọi là Hội Phủ Giầy hay Hội Thánh Mẫu Vân Hương. Đây là một trong những lễ hội nổi tiếng của cả nước. Hội mở linh đình nhộn nhịp thu hút một số lượng dân chúng đông đảo, nhất là dân ở mấy tỉnh Nam Định, Ninh Bình , Hà Nam, Thanh Hóa và Hà Nội. Phủ Giầy, là địa danh của vùng đất trong đó có quần thể kiến trúc gồm các đền, phủ và lăng mẫu thờ Mẫu Liễu thuộc xã Kim Thái, (trước là An Thái), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Hà, là nơi mà trong phạm vi một xã có mật độ di tích dày đặc. Ngoài Phủ Tiên Hương còn gọi là Phủ Chính (xưa kia, nơi này được qui định làm địa điểm tổ chức lễ hội), Phủ Vân Cát (còn gọi là đền Trình bởi trước khi sang lễ ở Phủ Chính, phải vào lễ trình diện ở Phủ Vân) thờ Mẫu Liễu Hạnh và Lăng Mộ của Ngài còn có một số đền chùa khác. Danh xưng Vân Hương Thánh Mẫu do ghép hai tên Vân Cát và Tiên Hương.


  • Bồ Tát Hạnh thể hiện bằng tâm hạnh và công đức, từ lời nói, việc làm, tụng niệm . . . đều luôn luôn hướng về sự lợi lạc bình an cho mọi người dù thân thuộc hay không thân thuộc. Bồ Tát Hạnh chính là tâm tự nguyện hiến dâng của người tu sĩ. Hiến dâng sở năng, sở hữu để đem lại sự an vui, bớt khổ cho nhân sanh, chứ không phải hiến dâng bất cứ điều gì cho các Đấng Thiêng Liêng. Thật ra sở năng, sở hữu của mỗi cá nhân dù tài trí siêu quần, sản nghiệp muôn xe không thể sánh được tứ vô lượng tâm Từ - Bi- Hỉ - Xả. Nên tu sĩ phát tâm hiến dâng để hiến dâng cuộc sống phàm phu hầu quyết chí tu tập đời sống đạo.


  • Sư là người sáng lập Trung quán tông (sa. mādhyamika), sống trong thế kỉ thứ 1–2. Có rất nhiều tác phẩm mang danh của Sư nhưng có lẽ được nhiều tác giả khác biên soạn. Sư cũng được xem là Tổ thứ 14 của Thiền tông Ấn Độ.


  • Chơn truyền là đâu ? / Nhịp cầu giáo lý

    Sau khi quá mỏi mệt với cuộc sống, lại hoang mang với bao triết thuyết, giáo thuyết, chủ nghĩa... con người thời đại bắt đầu tự hỏi "chân lý là đâu, chân truyền là đâu?"














    Lụy thân vì bởi ý ta bà,
    Vì bởi người còn chấp cái ta,
    Chẳng biệt giả chơn, không chánh niệm,
    Đành làm tôi tớ thập tam ma.

    Đức Quan Âm Bồ Tát, Liên Hoa Cửu Cung, 03-01 Ất Tỵ, 04-02-1965

    Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Nhịp Cầu Giáo Lý ngày một tốt hơn.


    Hãy gửi góp ý của bạn tại đây