Thống Kê Newsletter
Lần đầu đến với Nhịp Cầu Giáo Lý?

Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.

 
Có thể bạn chưa xem qua
  • Ngài Minh Thiện sinh tháng 8-1897 (năm Đinh Dậu) trong một gia đình đạo đức Nho giáo tại tỉnh Long An, làng Lợi Bình Nhơn. Thân phụ Ngài là ông Tôn Văn Thi, cũng là Minh Lý môn sanh , nhập môn ngày 02-9-1926, pháp danh Hiệp Nhứt. Thân mẫu Ngài là bà Lâm Thị Chợ
    BÀI ĐĂNG NHÂN NGÀY GIỔ CỦA NGÀI ĐỊNH PHÁP TỔNG LÝ MINH THIỆN
    16 THÁNG 11 Â, LỊCH

    Ông thân Ngài là một Nho gia, tu theo phái Minh Sư, giữ công phá cách, siêng làm các việc phước thiện Ngài theo tân học cho đến khi ra làm việc với chánh phủ thời bấy giờ, được gọi là công chức chánh ngạch. Có thời gian Ngài ra làm việc tại Côn Đảo mấy năm. Ngài mục kích lắm chuyện đau thương, thấy nhiều người đau khổ đến độ muốn chết đi cho rãnh, mà chết đi cũng không được. Thấy rõ cuộc đời là bể khổ, sầu đau, nên từ đó Ngài đã hướng tâm chí mình về đường đạo đức.


  • QUỐC SƯ VẠN HẠNH / TT. Thích Quảng Tùng

    Quốc sư Vạn Hạnh và PG thời Lý đóng góp vào sự nghiệp hộ quốc an dân
    TT. Thích Quảng Tùng
    Phật giáo truyền vào Việt Nam theo các thuyền buôn từ Ấn Độ đến bằng gió mùa Tây Nam và về bằng gió mùa Đông Bắc. Theo sử sách ghi chép thì Trung tâm Phật giáo Việt Nam có từ đầu Công Nguyên tại Luy Lâu, Bắc Ninh.
    Với tinh thần khế lý, khế cơ và tùy duyên bất biến Phật giáo đã hội nhập vào văn hóa bản địa về thờ cúng tổ tiên của người Việt để thành Phật giáo Việt Nam, nổi bật là tín ngưỡng Tứ Pháp.
    Trong bối cảnh gần 1000 năm Bắc thuộc, Phật giáo Việt Nam sống trong lòng dân tộc, hòa mình cùng dân tộc. Nên khi đất nước bị nô dịch hà khắc thì Phật giáo cũng bị suy vong. Và cũng từ đó mà hun đúc nên các Thiền Sư vừa uyên thâm về nội điển vừa mang tư tưởng đấu tranh giành độc lập cho dân tộc như Thiền Sư Định Không, Cảm Thành và La Quý v.v…
    Vào cuối thế kỷ thứ bảy, các Ngài đã dùng sấm vĩ để xác định tương lai của Đất nước và Phật giáo. Để vận động Phật tử, tín đồ và nhân dân đoàn kết lại cùng các trí thức đương thời phù Vua Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành đánh tan quân đô hộ phương Bắc, giành độc lập cho Đất nước, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc và đạo pháp vào cuối thế kỷ thứ 10.


  • Xây đắp Cao Đài nội tại / Đức Như Ý Đạo Thòan Chơn Nhơn

    ĐẤNG CHÍ TÔN luôn luôn ngự trong tâm thanh tịnh của chư đệ muội. Phật
    thánh tiên luôn luôn hộ trì, chỉ cần chư đệ muội công phu tu tập cho
    thật dũng mãnh sáng suốt, dầu đạo pháp ở cấp bực nào cũng có thể tu
    chứng được.


  • TRUYỀN THỐNGHỘI YẾN BÀN ĐÀO

    TẠI CƠ QUAN PTGLĐĐ

    Nhớ lại khi xưa, lúc ban đầu của tổ chức Nữ Chung Hòa thời kỳ tái lập, Đức Mẹ và chư Phật Nữ Tiên Nương đã gieo ý thức cho nữ phái rất nhiều và nhất là ý thức về ý nghĩa sâu sắc của Đại lễ Hội Yến Bàn Đào.


  • Từ xưa nữ lưu tùy tùng nam giới, ấy là lẽ âm dương đạo pháp tôn ti. Nay trong cơ tận độ, nữ phái được hồng ân cùng trong quyền pháp sứ mạng, phần thưởng nầy Đức Chí Tôn dành cho Khôn đạo.

    Đức Vân Hương Thánh Mẫu dạy :

    "Trong tổ chức Tôn giáo Tân pháp, buổi Tam Kỳ Phổ Độ nói chung, Minh Lý nói riêng, nữ giới được đóng vai quyền pháp, bình đẳng sứ mạng trước Hội Thánh. Đại diện cho giáo quyền mà  dìu dắt nhơn sanh thoát vòng tử sanh trong sáu đường nghiệp chướng, chư Nữ đồ ngàn năm danh dự một thuở, được tìm lại cái giá trị cao cả của con người nữ giới. Vật quý bửu được trở về, chẳng những tự mình vui riêng, mà xã hội hoàn cầu cũng chung hưởng hồng ân sung sướng.

    Quyền pháp nơi nầy không buộc các thiên ân phải bôn Nam tẩu Bắc tìm con chiên lạc đem trở về chuồng, mà phải tự mình khép chặt thân tâm  vào Bác Nhã Huyền Môn để khai Chơn Như, hiện Chánh giác."


  • Theo Pháp Chánh Truyền của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ do chính Đức Chí Tôn Thượng Đế ban truyền, thì Đức Giáo Tông chưởng quản Cửu Trùng Đài, cầm quyền từ hàng chức sắc của Hội Thánh đến toàn thể tín đồ Cao Đài tức là Cửu phẩm.
    Thầy đã dạy như sau: “Giáo Tông nghĩa là Anh Cả các con, có quyền thay mặt Thầy mà dìu dắt các con trên đường đạo và đường đời. Nó có quyền về phần xác chớ không có quyền về phần hồn. Nó được phép thông công cùng Tam thập lục thiên và Thất thập nhị địa, đặng cầu nguyện cho các con nghe à! Chư môn đệ tuân mạng!”(Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài)


  • Thanh Tĩnh Kinh / Lê Anh Minh dịch và phụ chú

    清 靜經
    Thanh Tĩnh Kinh

    ● Lê Anh Minh dịch & chú thích

    Kinh này có tên gọi đầy đủ là «Thái Thượng Lão Quân Thuyết Thường Thanh Tĩnh Kinh» 太上老君說常清靜經, còn có tên là  «Thái Thượng Hỗn Nguyên Thượng Đức Hoàng Đế Thuyết Thường Thanh Tĩnh Kinh» 太上混元上德皇帝說常清靜經, «Thường Thanh Tĩnh Kinh» 常清靜經, hay «Thanh Tĩnh Kinh» 清靜經. Nội dung của kinh là giải thích sự diệu dụng của thanh tĩnh. Để đạt sự thanh tĩnh thì người tu phải «tam quán»: nội quán (nhìn vào trong), ngoại quán (nhìn ra ngoài), và viễn quán (nhìn ra xa). Tam quán để thấy vạn vật đều là không; tức là «trừng tâm» (làm trong sạch tâm) để diệt trừ vọng tâm, diệt trừ phiền não.

    Tác giả của bản kinh này chưa rõ là ai. Có thuyết cho rằng đó là Cát Huyền 葛玄 (164-244); có thuyết cho rằng tác giả là một đạo sĩ ẩn danh, sống vào đời Đường (618-907) hoặc Ngũ Đại (907-1279). Bản kinh này (có lời chú của Thuỷ Tinh Tử 水精子) đã được đưa vào «Chính Thống Đạo Tạng» 正統道藏. Đây là bản kinh được giới Đạo sĩ rất xem trọng. Giáo phái Thanh Tĩnh Phái 清靜派 của Toàn Chân Đạo 全真道 quy định đây là bản kinh nhật tụng của đạo sĩ bản môn, nên bản kinh được lưu hành rất rộng và có nhiều bản chú thích của các nhà như: Đỗ Quang Đình 杜光庭, Thuỷ Tinh Tử 水精子, Hỗn Nhiên Tử 混然子, Hầu Thiện Uyên 侯善淵, L‎‎ý Đạo Thuần 李道純.●


  • Tín ngưỡng Việt Nam còn gọi là tín ngưỡng truyền thống hay tín ngưỡng dân gian, là tín ngưỡng của các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam.


  • TTCT - Phát hiện mới về Pétrus Trương Vĩnh Ký một lần nữa lại khẳng định tầm vóc và vai trò quan trọng trong hoạt động văn hóa quốc tế của nhà bác học về ngôn ngữ này.


  • Thống nhất - Quy nguyên / Đạt Tường sưu tầm

    THÁNH GIÁO KỶ NIỆM NGÀY KHAI TỊCH ĐẠO
    Nam Thành Thánh Thất

    Tý Thời đêm 23 tháng 8 năm Mậu Tuất (1958)


  • Hằng ngày sinh họat đạo, đọc sách đạo, chúng ta thường gặp hai chữ "đại đồng",  nhất là mục đích "Thế đạo đại đồng, thiên đạo giải thoát" của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

    Đối với người tín hữu Cao Đài là thế, nhưng các tôn giáo khác, các triết gia, nhiều nhà tư tưởng cũng nêu quan điểm: " tất cả tôn giáo là một", "tất cả trở về Một", " thế giới đại đồng", "toàn cầu hóa". . .

    Gặp nhiều, nói nhiều rồi có lúc chúng ta in trí đó là lẽ đương nhiên, hay hơn nữa, rất dễ dàng thực hiện. Nhưng trên thực tế, bắt đầu từ đâu để tìm ra manh mối của "đại đồng"?.


  • "...Tôi không quen ghi chép sổ sách gì, nhưng nhớ. Đó là ngày 20 tháng Chạp năm Bính Dần. Hôm ấy nhằm chuyến thứ tư cha tôi chèo ghe mướn cho mấy người ở nhà máy đường Thanh Điền lên viếng lễ "Đạo mới" bên chùa Gò Kén... "


    XUÂN TÂM XUÂN ĐẠO ĐỨC


    \"Mẹ đến trần gianđể thưởng Xuân,
    Cùng con lớn nhỏ được vui mừng;
    Con mừng thưởng đặng mùa Xuân đạo,
    Xuân đạo lập thành đức Thánh nhân.\"

    ĐỨC DIÊU TRÌ KIM MẪU


    XUÂN THÂN HỮU - THA THỨ - HIẾN DÂNG


    Cảm khái khí Xuân, nhìn lại cuộc đời diễn biến, rồi tự an ủi trước những sắc Xuân nhen nhúm đó đây của tình người, liên hệ đến đức háo sanh của Tạo hóa đã an bài trong vạn vật, ta hãy đặt tên cho Xuân nầy là \\\"Xuân thân hữu - tha thứ - hiến dâng.\\\"

    THIỆN CHÍ


    Viễn khách


    Nhạc và lời: BỬU LONG

    Tìm đến nơi nào còn đầy bóng tối. Lặng bước chân đi dù đường xa dịu vợi. Về bóng đêm đen lữ khách mang trong hành trang, một niềm tin vô biên, một ánh sáng vô vàn. Tỏa sáng cánh chim bay về phương xa, người vẫn bươc đi dặn lòng không ngơi nghỉ.
    Bạn với trăng sao, ơi gió, ơi mây, hãy cùng ta; bể khổ cho vơi đi, niềm vui đến cho muôn loài.
    Đây ngọn đuốc Cao Đài,
    rực soi bao đêm đen tối ám,
    cho bóng tối từ nay rủ sạch màu ảm đạm,
    lệ hờn căm thành dòng nước mắt ướt niềm vui.
    Chân lý, tình thương, trong mắt sáng môi cười.
    Viễn khách ơi, cho ta theo với.
    Dẫu đường dài, dẫu chông gai,
    người mãi bước mới vững vàng như những bước đã qua, để nối lại gần những ánh mắt nơi xa.


    Người bạn biết bay


    Nhạc và lời: Trần Bửu Long

    Con có người bạn biết bay là tiếng chuông tiếng chuông tiếng chuông ở trong thánh đường. Khi con đọc kinh tiếng chuông chìa đôi cánh chở con thăm thiên đường. Gió lồng lộng bên tai ngắm Phật ngắm Tiên không muốn quay trở về.


    Em đi trên con đường


    Nhạc và lời: TRẦN BỬU LONG

    Vui hát trong câu ca là la la la. Đôi bướm vui tung tăng lượn trong muôn hoa. Đường về Đài Cao đường chung của muôn nhà. Mình cùng vang ca quên mất đường xa.

    Nâng bước chân em đi đường xa xa ơi. Vang tiếng vang em ca về trao muôn nơi. Ngày này học Đạo Cao ngày sau sẽ giúp đời. Chờ bình minh lên tung cánh ngàn khơi.


    Dưới bóng cờ Đại Đạo


    Nhạc và lời: Thiện Quang

    Dưới bóng cờ Đại Đạo, một bóng cờ Đại Đạo,
    Là Việt nam, ta chung dòng máu; Nam Bắc Trung, chỉ một Đài Cao.
    Đem đạo ra chúng sinh, Một non sông một nghĩa tình,
    Cao Đài vẫn chung gia đình, Về đây với màu áo trắng;
    Chung cùng một ước mơ, Một tâm tư một bóng cờ,
    Cao Đài quyết tâm phụng thờ, Kỳ ba nhân thế mong chờ.

    Hò lơ hó lơ hó lơ.
    Sáng muôn phương! Ánh đạo quê hương!
    Chợt nhớ bao người trải nắng dầm sương
    dâng hiến cuộc đời để cờ cứu độ tung bay,
    đất nước ngàn năm vọng vang tiếng kinh Cao Đài.

    Đạo gốc bởi nơi tấm lòng tín thành hiệp hòa,
    Dẫu nắng dẫu mưa đức tin càng thêm thiết tha,
    Khí phách Tiền giang như Thái sơn một thời khai phá,
    Áo trắng Hậu giang như mây trời vạn thuở không nhòa.

    Rực sáng khắp trời Đông, Ánh Đạo từ đất Lạc Long,
    Trăm năm khéo bận lòng, Thế gian là sắc là không;
    Tâm chí đại đồng cũng là tấm tình non sông,
    Cứu thế kỳ ba hạ nguơn xứng danh Tiên Rồng.

    Ôi non linh nước thiêng, Chừ ai con Rồng cháu Tiên,
    Kỳ ba chấn hưng chân truyền, Cho hiển vinh ngàn năm văn hiến;
    Đây Trung Châu núi sông, Trường Sơn bên bờ biển Đông,
    Trời Nam đắp xây đại đồng, Để năm châu cùng hưởng ân hồng.

    Khoan hỡi khoan khoan hò.
    Có ai về, ai về miền Trung nước tôi,
    Để nghe câu kinh tứ thời núi sông bồi hồi.
    Cờ Đạo in bóng trong lòng đất,
    cờ Đạo in bóng trong hồn nước,
    Để xây thánh đường, ngôi thánh đường nội tâm thế nhân.

    Đem thương yêu đắp xây nhân hòa,
    đem trung kiên đắp xây bửu tòa,
    Cho Đông Tây Bắc Nam chung tình,
    Cho năm châu, bốn phương thái bình,

    Ôi Việt nam gấm hoa, Này Nam quan này Bắc hà,
    Dốc lòng phát huy đạo nhà, Kỳ ba dưới đại ân xá;
    Khai nguồn mạch Thánh Tâm, Kìa Giao Châu Đạo khởi mầm, Kiếp người nổi trôi thăng trầm, Trời đêm thắp ánh trăng rằm.

    Tuyết sương đã phủ đầu non, sương tuyết đầu non (ối a đầu non); Hiên tây gió lạnh từng cơn, bóng trăng đã tròn (ối a trăng tròn);
    Thế trần giữa thời Hạ nguơn, muôn lối ngược xuôi biết đâu dại khôn? Ngọc Kinh ai nhớ lối về, lối về cung son (ối a cung son).

    Bước chân sứ mạng đường xa, chân bước đường xa (ối a đường xa); Thương nhau, gắng lòng cùng nhau đắp xây nhân hòa (ối a nhân hoà);
    Bóng cờ cứu độ kỳ ba đưa bước vạn linh đến bên Trời Cha; Dụng cơ thánh đức thái hòa, trẩy hội Long Hoa (ối a Long Hoa).

    Chung nhau muôn cánh tay, Đài Cao ta cùng đắp xây,
    Việt Nam sáng danh đạo Thầy, Giương khắp nơi ngọn cờ nhân ái;
    Bao la trên ngũ châu, Dù Đông Tây dù Á Âu,
    Tình thương trải ra hoàn cầu, Để nhân tâm rực ánh đạo mầu.

    Dưới bóng cờ Đại Đạo, một bóng cờ Đại Đạo,
    Đường kỳ ba quy nguyên tam giáo,
    hiệp ngũ chi chung một Đài Cao.
    Dưới bóng cờ Đại Đạo, một bóng cờ Đại Đạo,
    Cả quê hương chung màu áo, cả nhân loại cùng Đài Cao;
    Cả quê hương chung màu áo, cả nhân loại cùng Đài Cao; nhân loại cùng Đài Cao.


    Thầy dành cho trẻ một mùa xuân,
    Đi lại trần gian xóa khổ trần,
    Như lý Đạo mầu đang cứu cánh,
    Cho đời thuần túy nét thanh tân.

    Đức Chí Tôn, Ngọc Minh Đài, 29-12 Bính Ngọ, 08-02-1967

    Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Nhịp Cầu Giáo Lý ngày một tốt hơn.


    Hãy gửi góp ý của bạn tại đây