Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Con đường đi đến chỗ trực nhận cái tâm tuy muôn nghìn lối nẻo, song tựu trung lại chỉ có hai hướng chính mà thôi. Cũng phải nói thêm rằng, chỉ đến Tam Kỳ Phổ Độ con người mới thực sự được ban trao một khả năng mới không hạn định vào bất cứ phương cách chi tiết nào miễn sao việc đó nằm trong phạm vi của pháp môn Tam Công, đây chính là tổng pháp tông của người Cao Đài.
-
Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo – Tòa Thánh Bến Tre
Lược ghi một số sự kiện lịch sử
-
TÌM HIỂU PHÁP CHÁNH TRUYỀN
Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ chánh thức ra mắt nhân sinh vào ngày Rằm tháng 10 năm Bính Dần (1926). Sau đó một ngày, Đức Chí Tôn liền ban hành ngay Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài để làm kim chỉ nam cho Hội Thánh thay mặt Ngài tại thế gian mà hành đạo cho có trật tự. Sự kiện đó chứng tỏ rằng luật lệ đối với hành chánh Đạo quan trọng dường nào.
Hiện nay Pháp Chánh Truyền và Tân Luật là luật lệ "căn bản" mà bất luận người tín hữu trong mọi chi phái nào nếu muốn làm đứa con tin của Đức Chí Tôn Thượng Tổ đều không thể thoát ngoài vòng chi phối của Pháp Chánh Truyền và Tân Luật.
-
Theo cuốn Hội chân biên của Thanh Hoà Tử, in vào năm thứ 7 đời Thiệu Trị (1847), thì ở Việt Nam có 27 vị Thần sinh ra hay đã từng sống trên đất nước ta trong đó có 14 vị là các nữ thần. Do sự lựa chọn tài tình của dân gian, trong các vị thần linh ấy có bốn vị được suy tôn là Tứ bất tử (bốn vị Thánh bất tử): Đức Thánh Tản, Chử Chử Đồng Tử , Đức Thánh Gióng, Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh.
-
Mùa tu Hạ chí năm Mậu Tý, chúng ta được giảng về hai chữ "quyết tâm".
NGÀY 27.5.MẬU TÝ.
Thế nào là quyết tâm?
Một thiền sinh được sư phụ cho nhập thất. Hết bảy ngày, thầy đến thăm và lắc đầu "ông hãy phấn đấu thêm thất nửa". Thời gian trôi qua hết thất thứ hai, thiền sinh cũng chưa đạt chút kết quả nào cả. Trước khi bước vào thất thứ ba, sư phụ dặn học trò "nếu sau bảy ngày, con không đến trình thầy, thì thầy biết con đã nhảy xuống sông rồi!" Tức là phải quyết tâm trong việc tu học, nếu không kết quả thì nhảy sông chết đi.
"Sanh tử sự đại, tấn tốc vô thường" (sống chết là việc lớn, nó tới không biết lúc nào."
Giải quyết được vấn đề sanh tử trước khi tắt thở, đó là việc làm của người tu, chứ không chờ khi chết mới biết.
Quyết tâm tức là chuyên tâm dồn hết thời gian, tâm huyết, sức lực, để tu đạt kết quả. Người xưa dạy "chuyên tâm nhứt xứ, vạn sự bất biện". (chú tâm vào một việc, đó là cách giải quyết của mọi việc).
-
Các ngươi có biết vì sao nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ phải dùng bằng huyền diệu cơ bút của Tiên gia mà hoằng pháp khai giáo?
Lần nầy THẦY đến cùng chúng sanh bằng luồng quang điển ngự nơi mỗi người đã có sẵn Thánh linh mà dạy dỗ và ban truyền bí pháp.
Ta đến cùng các ngươi cũng bằng Thánh linh mà các ngươi chưa hề biết được. Hằng ngày các ngươi cùng Ta chung lộn, Ta hằng giúp đỡ cho các ngươi, nhưng các ngươi còn vô minh, nghiệp thức cảm nhiễm, danh sắc pháp trần quá rung động, nên che khuất Ta.
-
"Văn hóa đạo đức có những gì tốt đẹp sâu sắc trong lãnh vực triết học, đạo lý, thần linh học, từ nhân sinh quan đến vũ trụ quan; sự liên hệ giữa Trời và người, sự liên hệ giữa Trời và vạn vật; sự liên hệ giữa con người và con người, sự liên hệ giữa con người và vạn vật..".
-
1. * Ngọc Trì là ai?
Trong
việc hành công, miệng con người không gọi là khẩu mà gọi là Ngọc Trì
(ao ngọc). Trong miệng có hai suối nước là Ngọc Tuyền, xuất phát cam lồ
là Ngọc dịch, đây là Tiên dược của hành giả chỉ có khi thanh tịnh trong
thời thiền.
Cơ thể con người
có một cấu tạo đặc biệt, mắt của chúng ta cho được mà miệng không cho
được. Cho nên miệng là ta, ta là miệng. Ngọc Trì là chính chúng ta trên
đường tu, tuy hai mà một. Ngọc Trì lên đường tu là cách nói hình tượng
nhân cách của chủ đề CẨN NGÔN.
Đạo Trưởng Huệ
Lương có kể chuyện về thời Khai Đạo tại Thánh Thất Cầu Kho. Trong một
thời cúng, các Đấng Tiền Khai đang đọc kinh trên bửu điện thì dưới trù
phòng có tiếng cải cọ lớn tiếng. Tiền Bối Đòan Văn Bản bước ra và xuống
bếp khuyên giải "Xin chị để cho các anh lớn dâng lễ xong rồi có chuyện
gì thì nhờ phân xử". Bà tiếp tục hét "không chờ gì hết!", rồi tự nhiên
nín luôn.
Mỗi
ngày người ta thấy bà đánh một dấu phấn ở gốc cột. Đủ ba năm bà mua một
hủ tương đến gặp Ngài Đòan Văn Bản, chỉ vào hủ tương rồi chỉ ra hướng
Vũng Tàu. Ngài Đòan Văn Bản hỏi "chị muốn chúng tôi đưa chị ra Long Hải
gặp anh lớn Nguyễn Ngọc Tương phải không? Bà gật đầu.
Ngài
Đòan Văn Bản mua vé xe đò, đưa bà ra quận Đất Đỏ vào gặp Ngài Nguyễn
Ngọc Tương (lúc bấy giờ Ngài đang làm chủ quận Đất Đỏ). Sau khi nghe tự
sự Đức Nguyễn Ngọc Tương mời Ngài Đòan Văn Bản và đương sự cùng lên
cúng thời ngọ. Trước khi xã đàn Đức Nguyễn Ngọc Tương lấy nước âm
dương, cầu nguyện Ơn Trên và đưa cho bà uống, ngay tức thì bà nói ngay
"con xin cám ơn Ơn Trên tha tội, từ đây con xin cẩn ngôn, cẩn hạnh".
Chúng ta tu, miệng chúng ta phải tu theo, đó là Ngọc Trì lên đường tu.
-
"Chử TÂM là chốn CAO ĐÀI
Không phân tã hửu là ngai Thượng Hoàng."
Đó là lời dạy của đức Vạn-Hạnh Thiền-Sư ngày 11-05-1970 Canh Tuất tại Trúc-Lâm Thiền Điện (VN).
"Chử Tâm là chốn Cao Đài" có nghĩa là Thượng Đế ngự ở Nội Tâm mổi chúng sinh. Đức Đông Phương Lảo Tổ cũng dạy:
"Tâm mình là điện thờ Thầy,
Giử cho thanh bạch hằng ngày kỉnh tin."
-
Vào đầu thế kỷ 20, trong những tháng ngày đất nước Việt Nam còn đắm chìm trong điêu linh khói lửa do bởi nạn ngoại xâm, một sự kiện hy hữu đã xảy ra trên mảnh đất Việt nhỏ bé, dân tộc Việt đón nhận một ân phước vô biên, Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, vị Chúa tể muôn loài từ xưa đến nay chỉ có trong huyền thoại tâm tưởng của con người đã thị hiện cứu rỗi loài người nơi cõi trần gian, nói chuyện với con người bằng ngôn ngữ của người Việt Nam...
-
Một ngày Tết Đoan Ngọ thật tươi trong và đầy ánh Thái dương ấm áp.Cơm nước đã sẵn sàn, tôi đem lên Đức Giáo Tông(Nguyễn Ngọc Tương)cùng ba gào mên chè đậu trắng…
Độ cơm trưa xong, tôi bạch Ngài:
-Anh lớn Đầu sư Thái Giáp Thanh, Chị lớn Phối sư Hương Thục và bà Lễ sanh Hương Dự mời Ông dùng chè của ba vị.
Đức Giáo Tông gật đầu bảo:
-Em hãy mở nắp đi!
-Dạ! –Tôi đáp và mở các nắp.
-
Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là vị Cổ Phật hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai đã tu chứng đắc thần thông quảng đại, vì nguyện lực đại bi nên Ngài hiện thân làm Bồ Tát để cứu khổ, ban vui cho chúng sanh.
