Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Nguồn gốc : Lư Bồng Đạo Đức, Thánh tịnh Thiên Thai, tại ấp Láng Biển – Mỹ Phước Tây-Cái Bè -Mỹ Tho ( Tiền Giang)
Danh xưng :“ Về danh xưng, Đức Chí Tôn lấy bốn chữ “ Tiên Thiên Đại Đạo”, hiệp với bốn chữ “ Tam Kỳ Phổ Độ, thành “Tiên Thiên Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ” (Theo sách “Ba Vị Giáo Tông Cao Đài Tiên Thiên, nhà xuất bản Tôn giáo, 2019,tr.69)
Về ý nghĩa :“ Các con nhớ lầy “ Tiên Thiên Đại Đạo” là cái đạo lớn của Đức Kim Mẫu sáng lập Kỳ Ba tại Nam Bang, mà lập thành chánh danh “ Tiên Thhiên Đại Đạo Tam Kỳ Pgổ Độ” : . . . Thầy tá danh Cao Đài Tiên Ông, làm bá chủ nền đạo, độ các con phần đạo lẫn phần đời, các con hiểu à ! (Đại hội Thiên Hoàng, Đức Ngoc Hoàng Thượng Đế giáng đàn, mùng, 8 rạng mùng 9 tháng Giêng năm Giaáp Tý – 1924, tại Lư Bồng Đạo Đức, tại ấp Láng Biển – Mỹ Phước Tây-Cai1 Bè - Mỹ Tho ( TG)) [ sđd. Ba Vị Giáo Tông Cao Đài Tiên Thiên, nhà xuất bản Tôn giáo, tr 68-69]* * *
-
Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ
Công-Bình Bác-Ái Từ-Bi
Niên Đạo thứ 85
Thánh-Thất Cao Đài Paris
35, rue Roger-Girodit. 94140 Alfortville FRANCE : 01 43 53 05 78
-
SOUFISME /
Soufisme (Sufism) là kinh sách dạy về Nội giáo(esoterism) của Hồi giáo (Islam)
Dưới đây là bài viết khái lược về Sufism của Ông Nguyễn Ngọc Châu, người có nhiều năm nghiên cứu về các đạo giáo qua các kinh sách sinh ngữ Anh Pháp.
-
Thiên là từ Hán Việt để diễn đạt TRỜI của chúng ta.
Từ lâu Đức Cao Đài dạy:
Thầy mong con biết Thầy, hiểu Đạo,
Cho thế gian cải tạo thanh bình…
Biết Thầy, hiểu Đạo là lễ phẩm trân trọng chúng ta kính dâng lên Đức Chí Tôn. Trong giới hạn của kiến giải và khuôn khổ của thời gian, đạo đệ xin trình bày đôi điều về CHỮ THIÊN TRONG ĐẠO CAO ĐÀI.
-
Nói đến Trần Nhân Tông trước hết là nói đến người anh hùng cứu nước. Ông làm vua 14 năm (1279 - 1293). Trong thời gian ấy, đất nước Đại Việt đứng trước thử thách ghê gớm: hiểm họa xâm lược lần thứ 2 và thứ 3 của giặc Nguyên-Mông.
-
Sứ mạng Chung Hòa là trách nhiệm quan trọng của Nữ Phái Tam Kỳ Phổ Độ để góp công quả vào mục đích tận độ quần linh của Đức Chí Tôn Thượng Đế trong Kỳ Ba Đại Ân Xá trên hai phương diện:
Thế Đạo đại đồng
Thiên Đạo giải thoát
-
Người tín đồ Cao Đài tin rằng các bậc Giáo Tổ từ Nhứt Kỳ đến Nhị Kỳ Phổ Độ đều là sứ giả của Đức Chí Tôn Thượng Đế. Vậy gốc của các Đạo trong hai thời kỳ đó vẫn là Đại Đạo.
Đến khi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ khai minh sau Nhị Kỳ trên 25 thế kỷ với tôn chỉ "Tam Giáo qui nguyên, Ngũ chi phục nhứt", nhân sanh thường nhận định đây là sự tổng hợp giáo lý Tam Giáo để lập thành một tôn giáo mới gọi là Đạo Cao Đài. Thậm chí trong buổi ban sơ đạo Cao Đài còn được tạm gọi là "Boudhisme renouvé", tức là " Phật Giáo canh tân".
Hiểu đơn giản như ý trước, đúng nhưng chưa đủ; nói theo cách sau là nói đại khái.
-
Đề tài đặt vấn đề mối quan hệ giữa Nhân sinh quan Cao Đài và bối cảnh xã hội nhân loại ngày nay hay sự ứng phó của Nhân sinh quan này với các vấn nạn của đời sống mới.
-
Trong Tin mừng Thánh Mát-thêu kể lại có một người đến thưa cùng Đức Giê-su rằng : “Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời?” Đức Giê-su đáp : “Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các điều răn”. (Mát-thêu 19:16-17)
-
Chữ Tâm /
CHỮ TÂM
Huờn-Cung-Đàn, Tý thời, 14 rạng Rằm tháng 5 Ất-Tỵ (13-6-1965)
Thiện-Tài Đồng-Tử, Tiểu-Thánh chào chư Thiên mạng, chào chư liệt vị lưỡng ban. Chư liệt vị thành tâm tiếp điển Đức QUAN-ÂM BỒ-TÁT. Tiểu-Thánh xuất ngoại ứng hầu, thăng...
(Tiếp điển:)
Bần-Đạo chào chư hiền sĩ, chư hiền muội đẳng đẳng.
Thi
QUAN trường như áo mặc rồi thay,
ÂM chất người ôi! kíp tạo gầy,
BỒ liễu, nam nhân tua gắng chí,
TÁT nhơn tát phúc chốn trần ai.
-
Do bị ảnh hưởng của khuynh hướng thiên tả ở một số nước theo chủ nghĩa xã hội, nên tôn giáo ở nước ta trước đây thường được xem xét dưới góc độ chính trị và chỉ thấy những mặt tiêu cực. Khoảng độ vài chục năm trở lại đây, với quan điểm đổi mới, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam đã có cách đánh giá xem xét khá mới mẻ với vấn đề luôn được coi là “nhạy cảm và tế nhị”- đó là tôn giáo.
-
Tư tưởng Đức Phật như một buổi đại yến tiệc, mà nói như nhà thơ Bùi Giáng, chỉ cần một hạt cơm thừa trên bàn tiệc đó cũng quá đủ để chúng ta thụ dụng suốt bình sinh. Điều đó ta càng dễ dàng cảm nhận khi đi sâu vào thế giới kinh điển Phật giáo.
Không cần đến cảnh giới hoành tráng được mô tả trong kinh Hoa Nghiêm hay tư tưởng siêu việt được diễn đạt trong kinh Đại Bát Nhã, vốn là những thứ có thể làm cho những kẻ sơ cơ như chúng ta khiếp hãi, mà ngay những câu kệ đơn giản mộc mạc trong kinh Pháp Cú hay kinh Phật thuyết Bát Đại Nhân Giác cũng khiến chúng ta cảm nhận được chiều sâu thăm thẳm, khi chúng ta đọc những trang kinh đó bằng những suy niệm chân thành.
Trong phần cuối của bài kệ thứ ba trong kinh Phật thuyết Bát Đại Nhân Giác, Đức Phật dạy rằng, bậc Bồ tát cần phải: "Thường niệm tri túc, an bần thủ đạo, duy Tuệ thị nghiệp”. (Thường nghĩ đến việc biết đủ, yên trong cảnh nghèo mà giữ đạo, chỉ lấy việc đạt đến tuệ giác làm sự nghiệp đích thực của mình). Kinh Phật thuyết Bát Đại Nhân Giác rất ngắn, chỉ gồm tám bài kệ ngắn nói về tám điều giác ngộ lớn, song chỉ cần một phần của bài kệ thứ ba này cũng đủ làm kim chỉ nam cho những ai thành tâm tu học, muốn đi vào thế giới của Phật đà.
