Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Các con tu luyện là để biết sống cái sống chơn thường tự nhiên tự tại của các con. Sanh vào cõi đời là phải sống bằng hậu thiên khí chất, sống bằng mọi sinh hoạt tương đồng. Nếu tương đồng mà không bị hòa đồng thì sẽ tiến hóa rất mau. Từ phàm phu nhục thể biết hòa hợp tiên, hậu nhị thiên thì tiến lên thánh thể, kim thân, phật thân không phải khó. Đã có đạo là phương tiện, phương pháp duy nhất để quay về nguồn gốc bổn lai, khốn nỗi khi vào trường tiến hóa này các con phải trải qua các lớp huấn luyện từ giáo dục thai bào cho đến tập quán gia đình xã hội cũng làm ảnh hưởng liên hệ lớn lao cho công cuộc tiến hóa của linh căn. Khi bắt đầu ô nhiễm trược chất lấp tràn, dầu những linh căn sứ mạng cũng mang ít nhiều ô nhiễm, sau mới giác ngộ vượt qua. Thế nên muốn cứu cánh một thân cũng là phải biết bao công quả, công trình, công phu tu luyện, huống hồ muốn có một cõi đời thánh đức cho nhân loại an hưởng thái bình cũng phải là những công quả công trình công phu to tát hơn tự mỗi cá thể, cộng đồng chứng ngộ mới kết quả.
-
Này các con ! Tiết Xuân hòa dịu đã đến trần gian. Các con đều dừng bước để đón xuân, vui xuân và gác hết nỗi ưu tư nhọc nhằn trong năm cũ. Các con cũng nên ghi lại những gì xấu tốt, nên hư bĩ thới, thăng trầm trên quãng đường các con vừa đi qua.
-
Đề tài : Đề cao tình thương và lòng mến đạo
Thánh Thất Bình Hòa, Tuất thời rằm tháng 9 Đinh Mùi (18-10-67)
-
Tam Qui /
Theo giáo lý nhà Phật, Tam Qui là qui y Tam Bảo gồm: "Qui Y Phật, Qui Y Pháp, Qui Y Tăng".
-
Đức Ngọc Lịch Nguyệt thế danh là Lê Văn Lịch, sinh ngày mùng 1 tháng 9 năm Canh Dần (14-10-1890) tại xã Long An, huyện Cần Giuộc, Chợ Lớn (nay là tỉnh Long An). Trước khi trở thành môn đệ Cao Đài, Ngài tu theo Minh Đường đến phẩm Dẫn Ân (Nhị thừa), đạo hiệu là Lê Xương Tịnh. Ngày 26-4-1926, Đức Chí Tôn ban Thiên ân phong cho Ngài Lê Văn Lịch làm Đầu Sư phái Ngọc, thánh danh là Ngọc Lịch Nguyệt (lúc đó Ngài được 37 tuổi và là vị Tiền Khai Đại Đạo có tuổi đời trẻ nhứt thời bấy giờ và đây có thể xem như là một sự kiện đặc biệt của Ngài).
-
Khai Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn phán rằng :
"Thầy sắp cuộc dinh hoàn tái tạo,
Dụng huyền linh Đại Đạo vận hành."
Hai chữ "dinh hoàn" ám chỉ cuộc tuần hoàn của vũ trụ theo luật doanh hư tiêu trưởng : quá trình phát triển của vạn sự vạn vật không cố định ở một mức độ mà theo chu kỳ như thủy triều đầy vơi, như trăng khuyết lại tròn, như đời người hết bỉ đến thái.
-
Nén hương nguyền lâng lâng tâm đạo,
Nhớ người xưa gian khổ theo Thầy hằng chỉ giáo ;
Từ rừng già dựng Thánh thất nguy nga,
Pháp Chánh Truyền, Tân Luật nêu đuốc sáng Kỳ Ba ;
Cơ đạo chuyển, Tây Ninh đến Định Tường, Bến Tre, Cà Mau, Rạch Giá. . .
Thiên nhãn Dương Đông là thần quang không ngừng lan tỏa,
Lớp lớp con Thầy nhập đạo cả Trung châu.
-
Trong giới luật tịnh trường, điều cấm đầu tiên là cấm hút thuốc và ăn trầu.
Trong thiền đường, miệng được gọi là Ngọc Trì ( tức là ao ngọc ) trong miệng, có nước miếng,đây là chất bổ của cơ thể con người gọi là Ngọc Dịch. Vừa xã tịnh, hút một điếu thuốc, ăn một miếng trầu là thuốc bổ hết tác dụng.
-
Dìu dắt cùng nhau buổi thế tàn,
Đừng quên sứ mạng đến phàm gian,
Tình thương vô cực trên dành sẵn,
Dưới biết thương nhau sẽ ngập tràn.
Bạch Lương Ngọc, Hiền đệ hãy trở về Vĩnh Nguyên lo sắp xếp lại tịnh trường để tiếp đón tịnh viên và chọn người thay thế phần đạo sự khi hiền đệ nhập tịnh.
Bần Đạo ban ơn lành chư hiền đệ, hiền muội. Nhớ lời Bần Đạo.
-
"Jésus Thánh Chúa đã từ lâu,
Rửa tội nhơn sanh đổ máu đào,
Dựng thế bằng lời thương tất cả,
Ngàn xưa cho đến những ngàn sau."
-
Kinh Thánh Thiên Chúa Giáo gồm Cựu Ước và Tân Ước. "Cựu ước" có nghĩa là "giao ước cũ", trình thuật về diễn tiến lịch sử dân Do Thái, trong đó có mấy lần Thiên Chúa Yavê giao ước với loài người: lần I, giao ước với Noê; lần II, giao ước với Abraham, tổ phụ dân Do Thái ; lần III, sau khi dân Do Thái rời khỏi Ai Cập, Thiên Chúa truyền "Mười điều răn" và giao ước với toàn dân trên núi Sinai qua trung gian Mosê. "Tân ước" là "giao ước mới" giữa Thiên Chúa và loài người được hiện thực nơi một nhân vật lịch sử mang thiên tính là Đức Giêsu, vừa là Thiên Chúa, vừa là Con Thiên Chúa.
-
Tại Việt Nam, bản kinh này xuất hiện trong một đàn cơ ở Thiên Thơ Đài (Phước Hải, tỉnh Bà Rịa). Sau đó bản kinh được in trong quyển Thoát Hoá Thiên Kinh do Đâu Suất Thiên Cung - Thanh Tịnh Đàn của Cao Đài Đại Đạo Tiên Thiên Hư Vô (chưởng pháp: Linh Châu Tử) xuất bản năm 1951 tại Mỹ Tho . . .
