Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Những nỗi niềm nhân sinh mang ý nghĩa tríết học xuất phát từ sự phản tỉnh của tâm thức khao khát tìm kiếm lẽ thật của đời người đã dẫn dắt con người đi đến cảm nhận sâu sắc về nỗi cô đơn cũng như những bi kịch tất yếu của kiếp người để chấp nhận nó và hóa giải nó một cách “tùy duyên” bằng cái tâm trong sáng và an định. Mặt khác, những nỗi niềm nhân sinh mang ý nghĩa xã hội xuất phát từ sự phản tỉnh của tấm lòng lo đời thương dân đã mang đến cho con người trong thơ vẻ đẹp của sự quên mình và tận tụy. Nét đẹp nhân văn ấy phải chăng đã góp phần không nhỏ khẳng định nhân cách lớn lao của con người thời Đông A cũng như dấu ấn khó phai của một thời đại thơ ca một đi không trở lại.
-
Kinh Cầu Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ( Ki-Tô giáo)
Lạy rất Thánh đồng trinh Maria. Mẹ đã vui lòng nhận lấy tước hiệu là Mẹ Hằng Cứu Giúp cho được giục lòng chúng con trông cậy vững vàng thì con nài xin Mẹ dủ lòng thương cứu giúp con trong mọi nơi mọi lúc, khi phải các cơn cám dỗ, khi sa phạm tội và khi gặp các sự khốn khó trong đời con và nhất là trong giờ chết.
-
Điểm tô Đạo Trời về mặt hình tướng là làm sáng danh Thầy, danh Đạo về mặt hình thức bằng cách xây dựng tôn nghiêm Thánh Thể của Thầy.
Thánh tịnh hay tịnh thất đều là một nơi để thể hiện tình thương của Thượng Đế đối với vạn linh sanh chúng nơi cõi trần. Cũng là nơi gặp gỡ của các bậc Thánh Lệnh đã có sứ mạng đến trần gian độ đời hành đạo, và cũng là nơi để tất cả đều tìm đến chơn lý trong sự sáng suốt thiêng liêng của mỗi nhơn sanh.
-
"Sự tín ngưỡng : Thầy rất mừng các con giờ nầy đến đây, trước vui cùng các con, Thầy ngẫm nghĩ lại các con nơi Trung Quang Thất nầy, một số đông con biết giữ Đạo thờ Thầy. Thầy khen cho, còn một số ít con còn mờ mịt chưa rõ chơn truyền của Đại Đạo. Sự tín ngưỡng các con quen tập theo lề lối cũ, rồi cứ truyền ngôn cho nhau, hoặc là kinh điển, Thầy bật cười... Vì là những sự quá cũ kỹ từ trên mấy thế kỷ. Như Thầy là Ngọc Đế hoặc là Ông Trời, bao trùm khắp thế gian này, như Thích Ca ở Ấn Độ, Lão Tử và Khổng Tử ở Trung Hoa, như Jésus ở Âu Tây, Thầy hỏi những bậc ấy lấy đâu làm căn cứ?
………..
-
. Who founded Caodaism?
CaoDaism was founded in Vietnam at the beginning of the 20th century by Cao Dai, the Supreme God or the Jade Emperor1 through the chronological events as follows:
– At the beginning of 1921, by means of the spiritism, the Supreme God revealed Himself through the mystical name “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”, nd officially accepted Ngô Văn Chiêu as the first disciple.
– On December 16th, 1925 (i.e., the first day of the eleventh month of the lunar year Ất Sửu), Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, and Cao Hoài Sang set up an altar to worship the Supreme God. Then, on December 19th, 1925, He congratulated them, “How lucky you are when following Caodaism.” [should check with the Vietnamese text].
At Christmas Eve of 1925, The Supreme Being revealed Himself :
“I am the Jade Emperor - Supreme God - Caodai Immortal - Great Bodhisattva - Mahatattva, teaching the Way in the Southern Quarter”.
“I am the eternal authority.
You get My favor by practicing the Way.
When the miraculous Way iss pread throughout the world.
Your names will become everlasting. .”
(Collection of Divine Messages, vol.1, 1973, p.5)
Thus, Caodaism was founded by the Jade Emperor - Supreme God or Cao Dai Immortal - Great Bodhisattva - Mahatattva.
-
Kể từ khi Đức Thượng Đế ban hồng ân khai mở Đại ĐạoTam Kỳ Phổ Độ, chọn nước Việt Nam làm Thánh Địa và dân tộc Việt được ban trao Sứ Mạng hoằng dương chánh giáo, người tin đồ Đại Đạo đã hòa mình vào tập thể để học Đạo, hành Đạo, từng bước tiến hóa với một ước mong tưởng chừng trong tầm vói của mình: đó là khi sống làm lợi ích cho nhơn quần xã hội và khi thoát xác được trở về với Thầy Mẹ. Nhưng đường tu hành nhiều cạm bẩy chông gai, khó khăn biết chừng nào, không phải ai cũng đạt thành ý nguyện vì chúng ta đang mang nhiều nghiệp quả từ tiền kiếp mà hiện kiếp thì có biết bao thử thách đang chờ đợi, vì vậy người tín đồ Đại Đạo cố gắng khép mình trong giới luật của Đạo Thầy.
Cái cảm giác phải tái kiếp làm người, trở vào vòng luân hồi sanh tử thật đáng sợ và không ai muốn cả nên cùng quyết tâm đi trên đường mình đã chọn.
-
Cách nay 19 năm, năm Bính Dần ( 1926) , Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế đã chính thức mở nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tại miền Nam Việt Nam có danh hiệu là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tên thường gọi là Đạo Cao Đài với tôn chỉ “Tam Giáo Qui Nguyên Ngũ Chỉ Phục Nhứt” để tận độ vạn linh sanh chúng trong thời hạ ngươn mạt kiếp này.
-
Tôi cũng có một ước mơ,
Mơ mọi người đều có một tấm lòng,
Để yêu thương,để sống thật chân tình;
Không hơn thua, không oán hận giựt giành,
Cùng cỡi mở cùng bao dung tha thứ . . .
-
Nguồn : http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Con-Nguoi/Tam_linh-ban_the_con_nguoi/)
Khi chủ nghĩa duy lý chưa ra đời và chưa chi phối đời sống con người, đời sống tâm linh ở con người rất dễ được nhận thấy, thậm chí nó thâm nhập tất cả các mặt đời sống khác của con người. Nhưng trong xã hội hiện đại, khi lý trí được tôn thờ như một quyền lực vạn năng, chủ nghĩa duy lý đã đem lại cho con người một sức mạnh nhận thức mới để chiếm lĩnh thế giới chung quanh, khiến cho con người có được nhiều thứ hơn- vật chất cũng như tinh thần – trước đó chưa hề có, nó lại làm cho con người mất đi nhiều thứ vốn có của nó, trước hết là đời sống tâm linh. Alexis Carrel, giải Nobel, tác giả cuốn sách nổi tiếng Con người – một ẩn số (L’homme, cet inconnu), viết rất hay về vấn đề này: “Công nghệ hiện đại đem lại cho chúng ta sư giàu có, sức khỏe, tiện nghi, mọi thuận lợi trong đời sống; nó cho phép chúng ta lập ra một thiên đường mới trên Trái đất. Nhưng các khoa học về sự sống vô cùng lạc hậu so với các khoa học về tinh thần.
-
Trong những kỳ lễ cúng Tứ Thời chúng ta đều có đọc kinh VÌ THIÊN ĐẾ do Đức Đạo Tổ dịch ra tiếng Việt Nam từ bài kinh XƯNG TỤNG CÔNG ĐỨC Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế viết bằng chữ Hán mà bên đạo Cao Đài đọc hằng ngày (Thái Cực Thánh Hoàng…). Nếu so sánh hai bài chữ Việt và chữ Hán, chúng ta thấy nghĩa lý hai bài giống y nhau. Tuy nhiên, bài chữ Việt có dư ra hai câu chót :
"Chi hơn an mạng thuận thời,
Vun trồng cây đức, lẽ đời vậy vay."
Cúng lâu ngày, đọc kinh thường xuyên, hai câu chót này đập mạnh vào tâm trí chúng ta. Chúng ta hãy đi sâu phân tích hai câu này, giải mã nó để tìm hiểu thêm ý nghĩa lời dạy của Đức Đạo Tổ gởi cho Minh Lý môn sanh chúng ta.
-
TÓC CÀI HOA SỨ
Mùa Vu Lan thường gọi là Mùa Báo Hiếu. Mùa này thường rộ lên những bài viết, bài thơ với đề tài “BÔNG HỒNG CÀI ÁO”. Những bài này luôn gợi lên tâm thức nhớ ơn tổ tiên cha mẹ. Đây là một truyền thống đạo đức có ính văn hóa rất cao.
Nhân mùa Vu Lan Báo Hiếu, các chùa, các thánh thất tổ chức những chương trình cầu siêu cho thân nhân tín hữu quá vãng, kể cả cầu siêu thăng cho vô số chơn linh cõi âm chưa siêu thoát. Trong đạo Cao Đài hầu hết các Thánh thất Thánh tịnh đều tổ chức những buổi cầu siêu suốt tháng 7 gọi là lễ Trung Ngươn Thắng Hội.
-
Lúc ra đi, Mẹ đã trang bị cho mỗi đứa con một cái túi “ VẠN BỬU NAN” đựng 8 báu Trung Tín, Le, Nghĩa, Liêm Sĩ, Hiếu Để, để làm thiết giáp cho linh căn khi lăn lóc vào đời.
Mẹ dặn dò : “ khi xuống hồng trần, các con phải luôn luôn đeo cái túi này trong mình, 8 báu chớ rời xa, vì nếu mất đi một món cũng khó trở về với Mẹ. Nếu túi và báu đều mất hết thì con phải bị vĩnh viễn đọa địa ngục, Mẹ nát cõi lòng. Còn như con đem túi và báu trở về đầy đủ thì Mẹ cho con được ngồi tòa sen. Các con ráng nhớ !”
