Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Thấy chăng anh
Nước Hoàng Hà từ trời tuôn xuống
Chảy băng ra biển chẳng quay về.
Lại chẳng thấy
Lầu cao gương sáng thương đầu bạc
Sớm tựa tơ xanh, chiều đã tuyết
Đời khi đắc ý hãy nên vui
Chớ để chén vàng trơ trước nguyệt.
-
Trong thời quân Nguyên sang xâm chiếm nước ta, sau hội nghị quân sự ở Vạn Kiếp để bàn định kế chống giặc Nguyên, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn viết "hịch" cho phổ biến trong dân chúng để hiệu triệu các tướng sĩ và nhân dân hãy cương quyết chống xâm lăng.
-
Đức Lý Đại Tiên Trưởng Thái Bạch Kim Tinh, Nhứt Trấn Oai Nghiên, hiện kiêm chức Giáo Tông Vô Vi của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ vì lòng từ bi thương xót nhơn sanh còn đang chìm đắm trong kiếp trầm luân tại dương thế nên Ngài tận lực cùng chư Phật Tiên giúp Thầy tận độ nhơn sanh qua khỏi thời Hạ nguơn mạt kiếp lập lại đời Thượng nguơn Thánh đức theo đúng Thiên cơ.
-
Victor L. Oliver cho rằng đạo Cao Đài chịu ảnh hưởng của ba nền văn hóa: văn hóa Trung Quốc; văn hóa Ấn Độ, và văn hóa Pháp. Ông cũng không quên nói rằng sự ra đời của đạo Cao Đài còn do ảnh hưởng của bối cảnh văn hóa Việt Nam vào đầu thế kỷ 20. . . .
-
Dòng sông uốn khúc qua bao thác ghềnh, đón nhận mọi nguồn nước đục trong, nhưng không bao giờ dừng lại. Lúc lớn, lúc ròng, sông cứ nhịp nhàng nuôi dưỡng cỏ cây người vật xinh tươi. Thời gian chứa đựng vô và n biến đổi của của cuộc
Thời gian là dòng sông vĩnh cửu, nhưng nếu không có bốn mùa thì lấy chi để đánh dấu thời gian. Mỗi mùa có những sắc thái riêng, mà Xuân lại được ca ngợi đón chào nồng nhiệt nhất, thì Xuân càng vinh hạnh biết bao! Nên Xuân đến, Xuân đi, rồi Xuân lại về!
đời, hưng phế thạnh suy, buồn vui sướng khổ. . . Thế nên có Xuân, vẫn có Hạ Thu Đông nối tiếp, thì đời người vẫn có thăng trầm là lẽ tự nhiên. Mừng Xuân không thể giữ Xuân mãi, hãy đón Hè về cho sen nở, Thu sang cho cúc vàng tươi, cũng không buồn lo đào mai trơ cành vào Đông giá rét. Vì cuối Đông, Xuân sẽ lại về.
-
Ý Thu /
. . .Hòa tan Tâm mình trong lòng Vô Cực Từ Tôn Kim Mẫu. Ôi ! Bao vinh quang tuyệt vời. Thật tuyệt ! Hòa tan làm Một, Tâm siêu việt thời không, nằm ngoài công lệ, chỉ có một Tâm đại thể, thoát khỏi hai gông kềm âm dương ngũ hành, hoàn toàn độc lập, tự do. Đây là cái độc lập thật sự, tự do thật sự, dầu ngoại cảnh gọi là thực tế há dễ so sánh được !
-
Thánh thất Cầu Kho là một trong những Thánh thất đầu tiên cơ Phổ độ Công truyền (đầu năm 1926), lập tại ngôi nhà ngói ba gian, cột gỗ vách ván của Ngài Đoàn Văn Bản, số 42 đường Général Leman (cuộc đất số 102 Trần đình Xu hiện nay, góc đường Cao Bá Nhạ). Trước đó, năm 1925, Ngài Đoàn Văn Bản đã thờ Đức Cao Đài theo sự hướng dẫn của Ngài Ngô Minh Chiêu.
-
Sáng 28-09-2013, Tu viện Phănxicô Đakao đã tổ chức một buổi gặp gỡ, hội thảo và chia sẻ liên tôn giáo nhân mùa kỷ niệm Ngày Về Trời của Thánh Phănxicô Atxidi (tiếng Ý: San Francesco d'Assisi). Theo tinh thần sống hòa bình và vui tươi của Thánh Phănxicô, cũng như theo chủ trương đối thoại liên tôn giáo của Ngài, buổi hội thảo đã diễn ra quanh chủ đề “Quan niệm NIỀM VUI theo Phật giáo, Cao Đài và Công giáo”. Dưới đây là bài tham luận hội thảo của Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo.
-
THI
Tam dương khai thới yến phi hồi,
Đại Đạo phùng xuân nhứt tửu bôi,
Thế thượng vô nan xuân bất tận,
Ngô tâm ứng hiện thị thiên thời.
-
Tôi không biết cuộc đời, hay đúng hơn là cõi người tốt xấu thế nào mà từ các vị giáo chủ, các nhà hiền triết đến giới văn nhân, thi sĩ… ai cũng chê tuốt luốt! Các ngài bảo đời là bể khổ, là trường tranh đấu, là chốn bụi trần, là cõi phù du, là cõi tạm, là … đủ thứ không mấy ai ưa! Đặc biệt hơn cả, có vị thẳng thừng từ chối kiếp người nếu có cơ hội làm lại từ đầu:
"Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo"
(Nguyễn Công Trứ)
-
Trong Tin mừng Thánh Mát-thêu kể lại có một người đến thưa cùng Đức Giê-su rằng : “Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời?” Đức Giê-su đáp : “Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các điều răn”. (Mát-thêu 19:16-17)
-
Chùa thường gọi là chùa Keo, tọa lạc ở xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Chùa ban đầu có tên là Nghiêm Quang, được dựng từ năm 1067 ở hương Giao Thủy, cạnh bờ sông Hồng. Đến năm 1167, chùa mới đổi tên là chùa Thần Quang.
