Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
TÂM KINH BÁT NHÃ
Quán-tự-tại Bồ-tát, hành thâm Bát-nhã Ba-la mật-đa thời chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Xá-Lợi-Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.
Xá-Lợi-Tử! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới, vô vô-minh diệc, vô vô-minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.
-
Nén hương nguyền lâng lâng tâm đạo,
Nhớ người xưa gian khổ theo Thầy hằng chỉ giáo ;
Từ rừng già dựng Thánh thất nguy nga,
Pháp Chánh Truyền, Tân Luật nêu đuốc sáng Kỳ Ba ;
Cơ đạo chuyển, Tây Ninh đến Định Tường, Bến Tre, Cà Mau, Rạch Giá. . .
Thiên nhãn Dương Đông là thần quang không ngừng lan tỏa,
Lớp lớp con Thầy nhập đạo cả Trung châu.
-
Đó cảm ứng từ bi trung thứ,
Đây công bình nắm giữ nguyên nhân,
Mở toang các cửa nơi trần,
Khai Minh Đại Đạo độ lần chúng sinh.
31. Nay Trung Ương sắc huỳnh mồ kỷ,
Rún năm châu bốn bể là đây,
Cũng nơi vạn pháp phô bày,
Tam tông qui lập Cao Đài chơn tông. ( Đức NGô Minh Chiêu - Ngoc Mkinh Đài-,Tuất thời, 01 - 3 Bính Ngũ (22-3-1966)
-
Thánh giáo Đức Hà Tiên Cô dạy chư tịnh viên.
Đây là bài giáo pháp rất đặc biệt, là một cẩm nang quí báu dành cho những hành giả quyết tâm cầu tu giải thoát.
Kính chúc quý hành giả thành công !
-
Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo – Tòa Thánh Bến Tre
Lược ghi một số sự kiện lịch sử
-
Ngũ Thời /
Theo Ngài Trí Giả Đại Sư thì Đức Phật thuyết pháp chia làm năm thời kỳ như sau :
1. Thời kỳ Hoa nghiêm (Avatamsaka) : Sau khi mới thành đạo, Đức Phật dùng tuệ nhãn nhìn thấy rõ tâm địa các vị Đại Bồ Tát và các bậc căn trí Đại thừa đã thuần thục, nên Ngài nói Kinh Hoa Nghiêm để giáo hóa và điều ngự họ. Trong số đó cũng có những bậc Tiểu thừa ngồi nghe, nhưng lại chẳng hiểu Đức Phật nói gì cả.
-
“Tánh là bản thể, là căn bản của con người, viên minh thường trụ, hồn nhiên thiên lý, vốn có một không hai, chơn thật mà thiêng liêng, ở Thánh không thêm, ở phàm không bớt.
-Phật giáo gọi là Chơn Như, Pháp giới tánh, Như Lai tạng, Diệu giác Ngươn minh…
-Đạo giáo gọi là Thiên tánh, Linh căn, Huyền đức,, Lý tánh, Lương tân,…
-Nho giáo gọi là Thiên lương bổn tánh, Thiên mạng chi tánh, Minh đức, Lương tri, Lương năng, Tánh lý”
Trong Đại Thừa Chơn Giáo, Đức Chí Tôn dạy: Tánh là nguyên lý(…) rất linh diệu thiêng liêng của Trời đã phân ra mà ban cấp cho mỗi người, nên lý ấy tức là Tánh vậy(…)Tánh tức Tâm.
-Mạng hiểu đơn giản là thân sống của con người, thuộc về phần hữu hình, là nhục thể, là xác thân được kết hợp từ 4 chất là đất, nước, lửa, gió, nên gọi là thân tứ đại,do âm khí hậu thiên của Trời phú bẩm cho cha mẹ sở sanh; cũng gọi là nguyên tinh, nguyên khí.
Tánh và Mạng là hai mặt của một bản thể, là sự un đúc từ Lý và Khí của Trời Đất mà thành hình thể. Hình thể đã có, thì Mạng phải chịu trong vòng sinh diệt, biến đổi. Tánh- Mạng con người trong cuộc sống thế gian bị chi phối bởi ngoại cảnh hữu hình, tạo nên tình thức và ý thức.
-
Huyền vi bí mật Tạo-Đoan đã cho một tánh-chất ly-kỳ bí mật , là khôn-ngoan hơn Vạn-Vật, do khôn-ngoan ấy mà tìm hiểu rằng cả cơ thể Tạo-Đoan có hai đặc-điểm trọng-yếu:
- Một là sống
- Hai là linh
Biết được hai đặc-điểm ấy, thấy nhơn-loại có hai chủ-hướng: Một là nương với cái sống của mình, cho cái sống là hệ-trọng tức-nhiên là học-thuyết cơ-thể Taọ-Đoan của đời, hai là nương theo tinh-thần nhơn-loại, nương theo triết-lý nầy cho cái Linh là trọng-hệ, vì cớ nên xu-hướng theo phần hồn là Tinh-Thần thường tại.
Bây giờ chia theo hai lẽ ấy.
Sống tức là Đời
Linh tức là Đạo
-
Ngoài cuốn ĐẠO ĐỨC KINH, Đức còn để lại cho đời nhiều cuốn kinh khác :
KINH CẢM ỨNG dạy về lẽ lành dữ trả vay,
KINH THANH TỊNH dạy về phép tu luyện vô vi, và
KINH HUỲNH ĐÌNH, bộ kinh cao hơn hết trong Đạo giáo.
-
. . .Không kể các thánh sở trong phạm vi nội ô ở các Tòa Thánh, ở mỗi Hội Thánh đều có các thánh sở Cao Đài đặc biệt về hình thức cũng như nội dung. Riêng các thánh sở đơn lập, phần nhiều mỗi thánh sở đều có đặc điểm riêng tùy theo lời dạy của Ơn Trên.
-
Từ xưa nữ lưu tùy tùng nam giới, ấy là lẽ âm dương đạo pháp tôn ti. Nay trong cơ tận độ, nữ phái được hồng ân cùng trong quyền pháp sứ mạng, phần thưởng nầy Đức Chí Tôn dành cho Khôn đạo.
Đức Vân Hương Thánh Mẫu dạy :
"Trong tổ chức Tôn giáo Tân pháp, buổi Tam Kỳ Phổ Độ nói chung, Minh Lý nói riêng, nữ giới được đóng vai quyền pháp, bình đẳng sứ mạng trước Hội Thánh. Đại diện cho giáo quyền mà dìu dắt nhơn sanh thoát vòng tử sanh trong sáu đường nghiệp chướng, chư Nữ đồ ngàn năm danh dự một thuở, được tìm lại cái giá trị cao cả của con người nữ giới. Vật quý bửu được trở về, chẳng những tự mình vui riêng, mà xã hội hoàn cầu cũng chung hưởng hồng ân sung sướng.
Quyền pháp nơi nầy không buộc các thiên ân phải bôn Nam tẩu Bắc tìm con chiên lạc đem trở về chuồng, mà phải tự mình khép chặt thân tâm vào Bác Nhã Huyền Môn để khai Chơn Như, hiện Chánh giác."
-
"...Tôi không quen ghi chép sổ sách gì, nhưng nhớ. Đó là ngày 20 tháng Chạp năm Bính Dần. Hôm ấy nhằm chuyến thứ tư cha tôi chèo ghe mướn cho mấy người ở nhà máy đường Thanh Điền lên viếng lễ "Đạo mới" bên chùa Gò Kén... "
