Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Lời nói đầu
HÀNH TRÌNH LƯU DẤU (TẬP 2)
“Hành trình lưu dấu” là lời nói đầu của Tập KỶ YẾU CAO ĐÀI GIÁO LÝ I (2009), nay Ban Biên Tập tiếp tục Tập Kỷ Yếu này nên câu chuyện sẽ là “ Hành trình lưu dấu 2”.
Kỷ yếu trước, BBT chủ ý giới thiệu nhiều thành phần tác giả gồm các vị Đạo trưởng, Đạo huynh, đến hàng Nữ phái và Thanh thiếu niên đã để tâm tư góp mặt trên các số CĐGL từ khi thành lập CQPTGL đến những năm 80-90.
Kỷ yếu thứ hai này được chọn những bài viết tương đối nổi bật về giáo lý Đại Đạo, về đường lối hành đạo, về tư tưởng đạo học, về đức tin và kiến thức tôn giáo nói chung trong những số tiếp theo.
Đặc biệt, các tác giả trẻ đã có những nét sáng tạo, tư duy mới qua các bài viết của mình. Các anh chị khác thể hiện khả năng nghiên cứu đạo học nhưng cũng không quên giới thiệu những bài học căn bản của người tín hữu, kể cả bước sơ cơ tu tập công phu đại thừa.
Vẫn có những cảm tác bằng tình cảm thiêng liêng vào những mùa Xuân, mùa Thu, hoặc tình thương của đàn anh, đàn chị đàn em trên đường tiếp nối đạo nghiệp tiền nhân.
Trong tinh thần đồng sứ mạng Đại Đạo TKPĐ, các vị môn sanh Minh Lý đã gửi cho CĐGL những bài viết làm phong phú thêm bức tranh “vạn giáo nhất lý”.
Ban Biên Tập Cao Đài Giáo Lý vô cùng cảm kích lòng ưu ái của quý vị Đạo trưởng, Đạo tỉ, chư huynh đệ tỉ muội, các giáo sĩ, tu sĩ, tu sinh đã nhiệt tình đóng góp bài vở cho Nội san của Cơ Quan, kể cả những vị chưa có bài đăng trong Kỷ yếu này vì khuôn khổ có hạn..
Nội san CĐGL luôn luôn đón nhận ý kiến xây dựng của quí độc giả để Tập san ngày càng tiến bộ trên đường Sứ mạng làm “điện đài thâu phát những động năng thúc đẩy sự thống nhất tinh thần cho toàn đạo”.
Mong rằng những lời chân thành trên đây là nhịp cầu giao cảm thắt chặt tình đồng đạo, đồng Thầy, đồng sứ mạng Tam Kỳ Phổ Độ.
Ban Biên Tập Cao Đào Giáo Lý
Tháng 6 năm Tân Tỵ 2013
-
LỊCH SỬ THÁNH THẤT PARIS
Ghi lại lịch-sử thành-lập Thánh-Thất Cao-Đài Paris là để tưởng-nhớ đến những người tiền-phong đã không ngại khó-khăn, hy-sinh ngày giờ, công của quyết chí gầy-dựng cơ-sở đạo này. Tục-ngữ Việt-Nam có câu: ‘Ăn trái nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ người đào giếng’. Thực-hiện tài-liệu sử đạo này thiết nghĩ là một việc làm hửu-ích, một bổn-phận của đoàn hậu-tấn, để bày-tỏ lòng biết ơn đối với các bậc Đạo-Trưởng và các bậc đàn anh đã kiên-trì nuôi-dưỡng cơ Đạo từ hơn mười mấy năm qua. Sau đây chúng-tôi xin ghi lại lời tường-thuật của Đạo-Tỹ Diệu-Thê :
-
Trí và Thức là hai lãnh vực mà có nhiều người học đạo chưa phân biệt được rõ ràng. Thực là một điều đáng tiếc.
Có bài thơ như vầy trong kinh Đạo Giáo :
Học Đạo chi nhơn bất ngộ chơn,
Chỉ vị tùng tiền nhận Thức thần.
Vô lượng kiếp lai sanh tử bổn,
Si nhơn hoán tác Bổn lai nhơn.
Nghĩa là :
Học Đạo lắm người hay hiểu sai,
Chỉ vị nhìn lộn Thức thần hoài.
Vô ngằn kiếp số gây sanh tử,
Mà kẻ ngu si tưởng Bổn lai.
Trong bài thơ nầy, người ta đối chọi hai chữ Thức thần và tánh Bổn lai. Thức thần nói tắt là Thức, còn tánh Bổn lai tức là Trí. Đó là hai chữ mà hôm nay chúng tôi muốn đem ra luận giải cùng quý vị.
-
Đức Chí Tôn đã ban cho nhân loại thuật ngữ "Cao Đài" để nhất quán đích điểm tiến hóa của con người và vũ trụ xuyên suốt qua tôn giáo, giáo lý và đạo pháp.
-
Ấn tượng lịch sử của Lễ Hội Yến Diêu Trì đầu tiên
Theo Sử Đạo, Đêm mồng 8 tháng 8 (25-9-1925), Đức AĂÂ giáng đàn, dạy ba vị Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang chuẩn bị thiết một lễ chay để cầu thỉnh Đức Diêu Trì Kim Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương giáng lâm. Đức Phạm Hộ Pháp cho biết : “Đức Chí Tôn ra lệnh, biểu làm một cái tiệc. Ngài dạy sắp đặt cái tiệc ấy để đãi Đấng vô hình. Đãi mười người (vị) Đức Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương” (1)
Đêm hôm sau, mồng 9, ba vị cầu đến Cô Đoàn Ngọc Quế (Vương Thị Lễ), hỏi thêm cho được tận tường. Đàn hôm ấy quan trọng. Cô Đoàn Ngọc Quế lần đầu tiên cho chư vị biết rằng Cô chính là Thất Nương, Chị Hớn Liên Bạch là Bát Nương, cùng trong Cửu Vị Tiên Nương hộ giá Đức Diêu Trì Kim Mẫu. Nhưng, Thất Nương vẫn chưa tiết lộ về Đức AĂÂ. Tiếp đến, Thất Nương hướng dẫn đầy đủ nghi thức hành lễ tiếp Đức Từ Tôn Diêu Trì Kim Mẫu vào đêm Trung Thu, và yêu cầu chư vị cần : Trai giới liền ba ngày trước khi hầu lễ, và phải dùng Đại ngọc cơ để cầu Đức Mẹ Diêu Trì.
-
Kỷ niệm lễ Khai Minh,
Nén hương nguyền lâng lâng tâm đạo,
Nhớ người xưa gian khổ theo Thầy hằng chỉ giáo ;
Từ rừng già dựng Thánh thất nguy nga,
Pháp Chánh Truyền, Tân Luật nêu đuốc sáng Kỳ Ba ;
-
Tại Việt Nam, bản kinh này xuất hiện trong một đàn cơ ở Thiên Thơ Đài (Phước Hải, tỉnh Bà Rịa). Sau đó bản kinh được in trong quyển Thoát Hoá Thiên Kinh do Đâu Suất Thiên Cung - Thanh Tịnh Đàn của Cao Đài Đại Đạo Tiên Thiên Hư Vô (chưởng pháp: Linh Châu Tử) xuất bản năm 1951 tại Mỹ Tho . . .
-
Long Vân một hội Bính Thìn Xuân
Hoa nở trăm hoa hiện khí Thần
Giáo lý Cao Đài nương giải thoát
Chủ quyền vạn tượng chí chơn nhơn
-
Dịch, quẻ Trạch Lôi Tùy gồm quẻ Đoài chồng lên quẻ Chấn, tượng hình sấm động dưới đầm với ý nghĩa thuận theo, nương theo, thể hiện sự hạ mình để giúp cho cuộc đời trở nên đẹp đẽ, vui tươi. Do đó, quẻ Tùy còn được gọi là đạo Tùy, được xem là đạo trị thế của Khổng giáo.
-
Chữ Kitô xuất phát từ chữ Christos trong tiếng Hi Lạp, nghĩa là "Đấng được xức dầu", dịch từ chữ Messiah trong tiếng Hebrew. Cơ Đốc nhân (Christian) có nghĩa là "người thuộc về Chúa Cơ Đốc."
-
Thiên Quan Tứ Phước là vị quan nhà Trời xuống trần gian chăm lo cho dân, ban bố mọi sự tốt lành cho sự sống ấm no hạnh phúc của dân chúng.
Vị quan nhà Trời ấy, theo truyền sử, đó là VUA NGHIÊU (2357-2255 trước CN). Sở dĩ Ngài được xưng tụng là "Thiên Quan Tứ Phước" là vì công đức của Ngài ban rải cho nhân dân rất đỗi to tát.
Truyền sử ca ngợi rằng: "Vua Nghiêu rất thương dân. Ngài nói: "Thấy một người dân đói, ta thấy như là ta đói; thấy một người dân rét, ta thấy như là ta rét; thấy một người dân bị áp bức, ta thấy như là ta bị áp bức". Vua Nghiêu cho đặt trống và bảng trước triều ca. Hễ ai muốn can gián, khuyến cáo nhà vua, thì hoặc đánh trống xin vào triều kiến, hoặc là viết lời gián nghị lên bảng.
-
Tư tưởng Đạo gia 道家思想 - Lê Anh Minh dịch
