Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Ý nghĩa của bốn chữ “Cửu Huyền Thất Tổ”
-
Tư tưởng Đạo gia 道家思想 ● Lê Anh Minh dịch
15. DANH LỢI 名 利 – ĐẮC THẤT 得 失
337. Danh dữ thân thục thân, thân dữ hóa thục đa. Đắc dữ vong thục bệnh. Thị cố, thậm ái tắc thậm phí. Đa tàng tất hậu vong. Tri túc bất nhục. Tri chỉ bất đãi. Khả dĩ trường cửu. [Đạo Đức Kinh, chương 44]
名與身孰親?身與貨孰多?得與亡孰病?是故,甚愛必甚費,多藏必厚亡。ç
Ÿ¥足不辱,知止不殆,可以長久。《道德經 • 第四十四章》
【Dịch】Danh với thân, cái nào quý hơn? Thân với của, cái nào trọng hơn? Được với mất, cái nào khổ hơn? Cho nên, yêu lắm ắt hao phí nhiều. Chứa lắm ắt mất nhiều. Biết đủ sẽ không nhục. Biết dừng sẽ không nguy. Có thể trường cửu.
-
Không phải đến bây giờ, mà đã từ rất lâu trong lịch sử nhân loại, ý niệm "nhân hòa" đã đđược xếp trong 3 yếu tố quyết định mọi sự thành bại của con người trong mọi lĩnh vực đời sống, từ khía cạnh kinh tế nhỏ nhất của một người bình thường là tìm việc làm mưu cầu sự sống cho đến phương diện chính trị với việc lớn nhất là làm vua trị vì thiên hạ. Đó là "Thiên thời, Địa lợi và Nhân hòa". Trong 3 yếu tố này, con người không tạo ra được "thiên thời", cũng khó có thể làm nên "địa lợi", mà chỉ có thể gây dựng được " Nhân hòa".
-
Sứ mạng Chung Hòa là trách nhiệm quan trọng của Nữ Phái Tam Kỳ Phổ Độ để góp công quả vào mục đích tận độ quần linh của Đức Chí Tôn Thượng Đế trong Kỳ Ba Đại Ân Xá trên hai phương diện:
Thế Đạo đại đồng
Thiên Đạo giải thoát
-
Ngôi Vĩnh Nguyên Tự được xây cất vào năm Mậu Thân (1908) tại xã Long An, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn, nay là tỉnh Long An.
-
DẩN NHậP
Hạnh nguyện của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát là :
" Trần gian vạn khổ còn kia,
Lòng người Bồ Tát đâu lìa chúng sanh"
Đức Bồ Tát dạy : "Chư hiền đệ, hiền muội phải hiểu:
- con đường mình đang đi phải đi về đâu,
- đi đến chỗ nào duy nhứt,
- rồi sẽ định việc làm.
- Trước khi làm phải hiểu việc làm thế nào cho hợp tình hợp lý, có nghĩa, có nhân.
Được như vậy mới dám hy sinh mọi mặt, mới có can đảm vượt qua mọi chướng ngại"
Qua lời dạy này Đức Bồ Tát muốn chúng ta phải biết Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đưa chúng ta đi đến đâu, và bằng cách nào để đi được tới nơi ? Mục đích, tôn chỉ, lập trường của Đại Đạo là giải đáp cho hai vấn đề trên.
-
Điều thứ hai mươi của Tân Luật có qui định Chức sắc giữ Thánh thất mỗi ngày phải làm tiểu lễ bốn lần theo tứ thời là Tý (từ 11 giờ khuya đến 1 giờ sáng), Mẹo (từ 5 giờ đến 7 giờ sáng), Ngọ (từ 11giờ đến 12 giờ trưa), và Dậu (từ 5 giờ chiều đến 7 giờ tối). Tín đồ tại tư gia cũng cúng tứ thời theo giờ qui định nêu trên. Có sự khác biệt về giờ khởi sự cúng tứ thời giữa các thánh thất Cao Đài. Tòa thánh Tây Ninh qui định cúng đúng 12 giờ khuya, 6 giờ sáng, 12 giờ trưa và 6 giờ chiều; trong khi đó một số Hội thánh khác (trong đó có Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo) bắt đầu cúng tứ thời vào lúc 11 giờ khuya, 5 giờ sáng, 11 giờ trưa và 5 giờ chiều.
-
“Lòng từ huệ bao la lớn rộng
Đem tình thương sự sống sẻ chia
Trần gian vạn khổ còn kia
Lòng người Bồ Tát đâu lìa chúng sanh”.
-
Nén hương nguyền lâng lâng tâm đạo,
Nhớ người xưa gian khổ theo Thầy hằng chỉ giáo ;
Từ rừng già dựng Thánh thất nguy nga,
Pháp Chánh Truyền, Tân Luật nêu đuốc sáng Kỳ Ba ;
Cơ đạo chuyển, Tây Ninh đến Định Tường, Bến Tre, Cà Mau, Rạch Giá. . .
Thiên nhãn Dương Đông là thần quang không ngừng lan tỏa,
Lớp lớp con Thầy nhập đạo cả Trung châu.
-
Từ thiên cổ người xưa đã từng ưu tư về kiếp sống ngắn ngủi mà các hung thần lão suy - bệnh tật - tử vong luôn rình rập bên mình. Cổ nhân – đặc biệt là các đạo gia, đạo sĩ – đã chuyên tâm nghiên cứu những phương thức dưỡng sinh, phòng và trừ bệnh, nhất là phương thức kéo dài tuổi xuân, để trẻ mãi không già, thậm chí để trường thọ cùng trời đất.
-
Lòng từ huệ bao la lớn rộng
Đem tình thường sự sống sẻ chia
Trần gian vạn khổ còn kia
Lòng người Bồ Tát đâu lìa chúng sanh
(Đức Quan Âm)
-
Sáng tinh mơ, khách dạo quanh vườn hoa kiểng, chợt bước vào nếp cỏ xanh, thấy lớp sương còn đọng long lanh giữa tiết Đông giá buốt. Khách thầm nghĩ, nếu như Xuân về muộn, mai nầy sương sẽ đóng băng, tự nhiên cản lối di hành. Ôi ! cái luật dinh hư tiêu trưởng có chờ ai chậm tiến! Bỗng nhớ câu “Lý sương, kiên băng chí” trong quẻ Khôn Kinh Dịch.
