Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Những nỗi niềm nhân sinh mang ý nghĩa tríết học xuất phát từ sự phản tỉnh của tâm thức khao khát tìm kiếm lẽ thật của đời người đã dẫn dắt con người đi đến cảm nhận sâu sắc về nỗi cô đơn cũng như những bi kịch tất yếu của kiếp người để chấp nhận nó và hóa giải nó một cách “tùy duyên” bằng cái tâm trong sáng và an định. Mặt khác, những nỗi niềm nhân sinh mang ý nghĩa xã hội xuất phát từ sự phản tỉnh của tấm lòng lo đời thương dân đã mang đến cho con người trong thơ vẻ đẹp của sự quên mình và tận tụy. Nét đẹp nhân văn ấy phải chăng đã góp phần không nhỏ khẳng định nhân cách lớn lao của con người thời Đông A cũng như dấu ấn khó phai của một thời đại thơ ca một đi không trở lại.
-
THÁNH THẤT BÌNH HÒA (Gia Định)
Ngọ thời Rằm tháng 8 Đinh Mùi (18-9-1967)
THỂ-LIÊN TIÊN-NỮ chào chư Thiên sắc, Chị mừng các em nam nữ. Chị vâng lịnh báo đàn, có VÔ-CỰC TỪ-TÔN DIÊU-TRÌ KIM-MẪU giáng cơ. Vậy các em nghiêm chỉnh đàn tràng, thành tâm tiếp giá. Chị chào các em, Chị xuất ngoại ứng hầu, thăng...
-
“ . . .Thương thay cho nhơn loại trong thời kỳ mạt kiếp này, cộng nghiệp đến giờ nên dịch bệnh lan tràn làm dấy động cả hoàn cầu. Hãy trọn thành, lấy công năng thiền định sẵn có của mỗi chư đệ, muội mà tích cực gia công hành trì, nguyện hồi hướng cho chúng sanh trong lúc này nghe.
-
CHƯƠNG THỨ HAI
NGUYÊN NHÂN ĐỨCTHƯỢNG ĐẾ KHAI ĐẠO TẠI ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM
PHÁP MÔN TAM CÔNG
SỨ MẠNG ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
MỤC ĐÍCH ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
TÍNH DÂN TỘC CỦA ĐẠO CAO ĐÀI
THIÊN NHÂN HIỆP NHẤT
-
Chúng tôi rất ngưỡng mộ niềm tin Thương Đế (TH.Đ) hiện hữu mà diễn giả đã trình bày. Điều đó đã thúc đẩy chúng tôi muốn phụ họa đề tài Thượng Đế hiện hữu bằng những suy tư nhằm định vị Thượng Đế, hay nói dễ hiểu, đã xác tín TH.Đ hiện hữu thì làm sao biết TH.Đ. ở đâu mà tìm? Do đó chúng tôi mạo muội giới thiệu đề tài ĐỊNH VỊ THƯỢNG ĐẾ bằng một vài minh họa sau đây:
-
Thiên Lý Đàn, Tý thời 29 rạng mùng 1 tháng Giêng Canh Tuất (5-2-1970)
(Đàn Giao Thừa)
-
TÂN PHÁP CAO ĐÀI
1 Tổng quan
2 Ý nghĩa Tân Pháp Cao Đài
2.1 Chính Đức Thượng Đế mở TânPháp Cao Đài
2.2 Chọn dân tộc Việt Nam để ban Tân Pháp Cao Đài
2.3 Tân Pháp Cao Đài giải tỏa lớp vô minh, mở con đường tiến hóa
2.4 Tân Pháp Cao Đài dụng thế thiên nhơn hợp nhất
2.5 Tân Pháp Cao Đài con đường quy Tam giáo hợp Ngũ chi
3 Phápmôn Tân Pháp Cao Đài
3.1 Tân Pháp Cao Đài là pháp môn Đại ân xá
3.2 Tân Pháp Cao Đài là pháp môn Tam Công
4 Kết luận
-
Lê Quý Đôn nguyên là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, sinh ngày 2-8-1726, trong một gia đình khoa bảng; cha là tiến sĩ Lê Trọng Thứ, quê tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, nay là thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ngay từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh, chăm học. Năm 14 tuổi, Lê Quý Đôn theo cha lên học ở kinh đô Thăng Long. Lúc ấy cậu bé 14 tuổi đã học xong toàn bộ sách kinh, sử của Nho gia.
-
BỐN BÀI THÁNH GIÁO ĐẦU TIÊN SẼ LẦN LƯỢT HỌC TRONG NĂM 2017 -ĐINH DẬU
-
Ý nghĩa đầy đủ của TCH chính là ước muốn giao lưu, kết hợp giữa con người trên thế giới, sự liên thông các lãnh vực trong đời sống xã hội, trong đó chắc chắn có tôn giáo. Ý nghĩa TCH trong lãnh vực tôn giáo thật ra không phải là mới mẻ, bởi lẽ, bất kỳ tôn giáo nào cũng có sứ mạng đưa giáo lý của mình đến quãng đại chúng sanh, giúp con người đạt trạng thái quân bình và hướng xã hội nhân loại tới chân thiện mỹ.
-
Thiên Trung Dung trong Tiểu Đái Lễ Ký tương truyền là sáng tác của Tử Tư, cháu nội của Khổng Tử. Cho nên thiên Khổng Tử Thế Gia trong Sử Ký nói: «Tử Tư viết Trung Dung.» Thiên Phi Thập Nhị Tử trong Tuân Tử xem Tử Tư và Mạnh Tử là một phái. Ngoài ra, những nghĩa lý được nói trong Trung Dung và Mạnh Tử thì tương đồng. Như vậy Trung Dung có lẽ do Tử Tư viết.
-
Qua một kiếp Ngài giáng trần bên Trung Quốc dưới triều đại nhà Đường, Ngài đã để lại cho hậu thế một gia tài với khoảng 20.000 bài thơ, Ngài đã được tôn vinh là một trong những đại thi hào tài hoa của phương Đông
