Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Đề tài : Phụ nữ với sứ mạng trưởng dưỡng bảo tồn
GIÁO HỘI TIÊN THIÊN - Thánh Tịnh AN TIÊN,
Tý thời mùng 1 rạng mùng 2 tháng 2 Đinh Mùi ( 11/3/1967 )
Lễ Thánh Đức Chuyển Luân Linh Căn Thống Hội.
-
. . .Người tu hành cũng thế. Muốn xây đắp được một nền tảng chơn lý để đạt đến chỗ chí linh chí diệu của con người trong đạo pháp, cũng cần phải đem hết tâm thần vào chỗ đại định để tìm ra những bí quyết hành tàng trong bộ máy tối linh hầu tìm lại chỗ Bản Lai Tự Tánh, chứng quả vô sanh bất diệt nơi cõi trường tồn. . .
-
Mùa tu Hạ chí năm Mậu Tý, chúng ta được giảng về hai chữ "quyết tâm".
NGÀY 27.5.MẬU TÝ.
Thế nào là quyết tâm?
Một thiền sinh được sư phụ cho nhập thất. Hết bảy ngày, thầy đến thăm và lắc đầu "ông hãy phấn đấu thêm thất nửa". Thời gian trôi qua hết thất thứ hai, thiền sinh cũng chưa đạt chút kết quả nào cả. Trước khi bước vào thất thứ ba, sư phụ dặn học trò "nếu sau bảy ngày, con không đến trình thầy, thì thầy biết con đã nhảy xuống sông rồi!" Tức là phải quyết tâm trong việc tu học, nếu không kết quả thì nhảy sông chết đi.
"Sanh tử sự đại, tấn tốc vô thường" (sống chết là việc lớn, nó tới không biết lúc nào."
Giải quyết được vấn đề sanh tử trước khi tắt thở, đó là việc làm của người tu, chứ không chờ khi chết mới biết.
Quyết tâm tức là chuyên tâm dồn hết thời gian, tâm huyết, sức lực, để tu đạt kết quả. Người xưa dạy "chuyên tâm nhứt xứ, vạn sự bất biện". (chú tâm vào một việc, đó là cách giải quyết của mọi việc).
-
Nhìn lại lịch sử nhân loại song song với lịch sử các tôn giáo, ta thấy chỉ trong thời Tam Kỳ Phổ Độ mới có sự hi hữu là Đức Chí Tôn thân hành mở đạo phổ độ quần sanh.
Ngài là “Tột đỉnh” của “Nhất nguyên”. Sự lâm phàm của Ngài là tất yếu cho thời kỳ “Qui nguyên phục nhất” khi thế gian đã đến giai đoạn cực kỳ phân hóa và ở bên thềm thoái hóa. Nhưng không phải Ngài đến để tỏ ra hiện hữu mà đến để thể hiện và thực hiện trọn đủ cái phạm trù: “Thượng Đế - Đạo - Chúng sanh”.
-
Hệ Từ Thượng-Chương VI viết:
Quảng đại phối Thiên Địa, biến thông phối tứ thời, âm dương chi nghĩa phối nhật nguyệt. Dị giản chi thiện phối chí đức” (廣 大 配 天 地, 變 通 配 四 時, 陰 陽 之 義 配 日 月. 易 簡 之 善 配 至 德): Sự quảng đại sánh với trời đất, sự biến thông sánh với bốn mùa, cái nghĩa âm dương sánh với mặt trời mặt trăng, sự giản dị khéo léo sánh với đức siêu việt. (Dịch Kinh Tân Khảo, hệ từ thượng, tr.3602)
- Quảng đại là sự rộng lớn. Phối: sự kết hợp. Quảng đại phối Thiên Địa: sự rộng lớn hợp với nhau tạo thành Thiên Địa, sánh như Thiên Địa, lòng quảng đại, hội thông được tâm của Trời Đất.
- Quảng đại là tình thương rộng lớn: Không có gì rộng lớn cho bằng vũ trụ càn khôn, bao quát cả không gian vô cùng, thời gian vô tận. Trời Đất chứa đựng tất cả: muôn loài, vạn vật, mọi sự, mọi việc thiện ác tốt xấu, nên hư,… Vậy, quảng đại là tình thương rộng lớn. Chúng ta dễ nhận thấy lòng quảng đại của cha mẹ đối với con cái, của các bậc Minh chúa, Thánh hiền, ở các vị Giáo chủ như Đức Phật, Đức Chúa, Đức Chí Tôn:
Tình Tạo Hóa ban đều vũ trụ,
Đức háo sanh bao phủ càn khôn,
Chuyển luân nhựt nguyệt vong tồn,
Cỏ cây nhơn vật vô cùng hóa sanh. (Đức Chí Tôn, Nam Thành Thánh Thất, Tuất thời, 01-01 Ất Tỵ (02-02-1965)
-
TỪ BẢN THỂ ĐẠI ĐỒNG DÂN TỘC đến TÍNH DÂN TỘC CỦA ĐẠO CAO ĐÀI
Mỗi dân tộc trên thế giới, từ thời dựng nước, trải qua lịch sử thăng trầm giữ nước, xây dựng đời sống nhân dân no ấm phồn vinh, phát huy văn hóa dân tộc, phát triển văn minh là một chuỗi dài nỗ lực và hy sinh của nhiều thế hệ.
Mỗi dân tộc đều tự hào về di sản của ông cha và tiếp tục giữ gìn phát huy truyền thống tiền nhân để lại hầu bảo vệ xây dựng tổ quốc trường tồn, tiến bộ không ngừng.
Chính tình yêu nước thiêng liêng, ý chí quật cường, trí tuệ sáng tạo, lòng biết ơn tổ tiên, cộng với dân tộc tính, với bản sắc văn hóa đã đúc kết nên bản chất tiềm tàng trong mỗi người dân. . . Rồi truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác, thấm nhập giá trị nhân bản phổ quát đại đồng trong dân tộc và có khả năng tiến hóa hòa hợp với các dân tộc khác trên hế giới.
Với những đặc tính trên, có thể gọi \"bản chất\" ấy là BẢN THỂ ĐẠI ĐỐNG DÂN TỘC.
-
THANH NIÊN và THIÊN CƠ GIÁO ĐẠO
Ngày kỷ niệm Khai Tịch Đạo năm Mậu Tuất 1958, Đức Lý Giáo Tông Đại Đạo đã chỉ rõ tiến trình cơ Thiên đã định: "… muốn đạo thành phải làm sao? Nên nhớ rằng: mười hai năm khai đạo, mươi hai năm kế giáo đạo, mười hai năm sau thành đạo. Trong tam thập lục niên sở định, khi giai đoạn đầu mà các hướng đạo đã làm được thì đến giai đoạn hai đạo thành rất dễ…" [1]
Vì vậy,12 năm sau khi Khai Lập Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ bước vào năm Mậu Dần 1938, việc giáo đạo vấn đề huấn luyện thanh niên để thành phần tuổi trẻ ý thức góp phần tham gia vào công cuộc truyền đạo đã được Thiêng Liêng triển khai rộng khắp. Việc gieo ý thức này, đồng thời tác động vào cả 2 đối tượng: lớp người đi trước đang lãnh đạo lèo lái con thuyền Đại Đạo và những người trẻ đang tiếp bước theo sau.
[1]Đức Lý Giáo Tông, Nam Thành Thánh Thất, 23 tháng 8 năm Mậu Tuất (1958)
-
Ngày mùng 1 tháng 3 Đinh Hợi (thứ ba 17/04/2007) được sự phân công của Ngoại Giao Vụ, phái đoàn chúng tôi gồm ba nhân viên: Chí Thật, Minh Đức và Đinh Thị Hạnh, đi dự lễ tại thánh thất Nguyệt Cảnh.
Xuất phát từ Cơ Quan lúc 20g25 phút ngày 29 tháng 3 Đinh Hợi, hai con ngựa sắt chở chúng tôi ra phòng vé công ty xe khách Mai Linh số 500 Lê Hồng Phong. Làm thủ tục mua vé xong, có xe trung chuyển đưa chúng tôi ra bến xe xa cảng miền tây lúc đó 21g35 phút, cũng là thời điểm chúng tôi khởi hành đi Cà Mau.
-
Trong các Đạo học gia đời Tống (960-1279), Chu Liêm Khê 周 濂 溪 (1017-1073) và Thiệu Khang Tiết 邵 康 節 (1011-1077) đặc biệt nổi tiếng về việc đưa tư tưởng Đạo giáo vào Đạo học.
Đóng góp quan trọng nhất của Chu Liêm Khê cho Đạo học là Thái Cực Đồ 太 極 圖 và Thái Cực Đồ Thuyết 太 極 圖 說 .
-
"Người sanh ra bởi Đạo, thì Đạo tức là người, thì người phải làm sáng cái Đạo, tức là người phải ra người để tự cứu cánh và ảnh hưởng đến vạn vật"
-
Lặng lẽ nhìn Trời ta vốn một,
Máy hữu hình then chốt như nhau;
Thanh đó là trược nguồn đầu,
Động cùng nên tịnh diệu mầu lắm thay !
Là thượng đức hòa hài muôn vật,
Không ngã nhân đắc thất vong tồn,...
-
Cứ mỗi độ Xuân về là nhớ đến Kinh Dịch. Bởi Xuân ứng với Đức Nguyên của quẻ Kiền, người học Dịch tuy chưa nắm hết ý nghĩa sâu xa của Thánh Nhân trong Kinh Dịch, tuy với sự hiểu biết còn nông cạn cũng phải viết lên những điều suy nghĩ đã được học hỏi qua lớp Kinh Dịch Căn Bản tại CQPTGL.
