Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Trướt hết, cần tìm hiểu hai chữ "đồng hành".
Theo nghĩa hẹp, đồng hành là "cùng đi", nhưng cùng đi trong tình huống nào ? Đi cùng một lúc hay cùng một đường, và có cùng đi đến một mục đích hay một địa điểm không ?
Nên đồng hành còn có nghĩa rộng rất quan trọng.
-
Trí và Thức là hai lãnh vực mà có nhiều người học đạo chưa phân biệt được rõ ràng. Thực là một điều đáng tiếc.
Có bài thơ như vầy trong kinh Đạo Giáo :
Học Đạo chi nhơn bất ngộ chơn,
Chỉ vị tùng tiền nhận Thức thần.
Vô lượng kiếp lai sanh tử bổn,
Si nhơn hoán tác Bổn lai nhơn.
Nghĩa là :
Học Đạo lắm người hay hiểu sai,
Chỉ vị nhìn lộn Thức thần hoài.
Vô ngằn kiếp số gây sanh tử,
Mà kẻ ngu si tưởng Bổn lai.
Trong bài thơ nầy, người ta đối chọi hai chữ Thức thần và tánh Bổn lai. Thức thần nói tắt là Thức, còn tánh Bổn lai tức là Trí. Đó là hai chữ mà hôm nay chúng tôi muốn đem ra luận giải cùng quý vị.
-
Đỗ Thị Duyên, Thùy Nhiên, Đào Thiên Niên, Hương Lan
Bài viết này là một phần trong đề án nghiên cứu "Quyền pháp – tình thương và sự sống", nhằm trình bày yếu điểm giáo lý "Quyền Pháp" bằng một ngôn ngữ gần gũi hơn với xã hội, sao cho người đời có thể nhìn thấy được những ứng dụng thực tiễn của chủ đề giáo lý này trong đời sống hàng ngày.
Trong quyển Yếu Điểm Giáo Lý Đại Đạo, hai chữ "Quyền Pháp" được giải thích như sau: "Quyền là tình thương, Pháp là sự sống."[1] Còn trong Đạo Học Chỉ Nam, "Quyền là hình thức thể hiện trước đối tượng, Pháp là thể hiện trước bản thân"[2]. Mục đích của bài viết này là diễn dịch những định nghĩa như vậy bằng một cách thức đơn giản hơn, để xã hội dễ tiếp thu hơn.
[1] Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, Yếu Điểm Giáo Lý Đại Đạo, tr. 89.
[2] Đạo Học Chỉ Nam, chương 4, tiết 4, mục 1.
-
Sinh ra trong một gia đình có 7 anh chị em, ông Lê Đình Nghiên thuộc thế hệ thứ ba trong một gia đình có truyền thống nghề tranh ở làng Bình Vọng (Thường Tín, Hà Tây).
-
Đức Vạn Hạnh Thiền Sư cũng có lần dạy về sự thắng và thua trong kiếp người:
Một người tướng có thể cầm binh thắng năm mười trận, nhưng họ vẫn thua khi trở về gia đình bị lụy vì tình, làm khổ vợ khổ con.
Một nhà ngoại giao có thể thắng nhiều nước cờ trên trường quốc tế, nhưng khi không dằn cơn nóng giận, họ sẽ thua một đứa nhỏ đánh giày.
Một quan tể tướng trong triều đình, họ có thể thắng hằng ngày trên trường quốc sự, nhưng nếu họ vô độ lượng trong lúc vui say tửu nhục, họ cũng phải thua nửa lít nước trong.
Trong giới tu hành cũng thế. Một người giáo sĩ truyền đạo, có thể hùng biện diễn thuyết thắng thế trước muôn người, nhưng họ đành phải thua một phút nổi sân buông lời khiếm nhã.
Một người chức sắc hoặc một đạo hữu có thể thắng trên mọi lãnh vực trường đời, nhưng họ không thắng nổi được nội tâm mỗi khi tham dục loạn động, đó là thua.
-
SƠ LƯỢC về HUYỀN BÚT CƠ trong ĐĐTKPĐ.
Tý thời 14 rạng 15 tháng 3 Mậu Thân 1968, một buổi đàn cơ đặc biệt được tiến hành tại Tam Giáo Điện Minh Tân, bến Vân Đồn quận tư Sài Gòn. Đặc biệt, là do bởi đàn cơ nầy được thực hiện không theo phương cách và hình thức cầu cơ thông dụng của Cao Đài Giáo: dùng đồng tử thủ Đại Ngọc Cơ để Ơn Trên giáng điển viết chữ cho độc giã đọc hoặc cho đồng tử xuất khẫu. Trái lại trong buổi đàn cơ nầy, các đấng Thiêng Liêng dùng huyền linh điển làm cho một ngòi bút nhỏ được treo bằng một sợi chỉ tự động di chuyển trên một bảng chữ cái tiếng Việt. Ngòi bút di động đến mẫu tự nào thì đọc giả xướng lên cho điển ký ghi lại chữ đó và cứ thế mà ráp vần. Theo tài liệu còn lưu lại, số người dự buổi đàn đặc biệt đêm hôm đó gồm: bộ phận hành sự Huyền Cơ, bộ phận Hiệp Thiên Đài và nam nữ đạo hữu, tất cả là 106 vị.
-
Đại Lễ Khai Minh Đại Đạo đã diễn ra tại Thiền Lâm Tự - Gò Kén Tây Ninh, sau khi hòan chỉnh ngôi Thánh thất đầu tiên.
Khi đó, một đạo sự trọng tâm trong việc “phổ độ” đã diễn ra liên tục hằng đêm tại Thiền Lâm: “Cơ Bút thâu nhận sanh linh … theo Thiên thơ.”
- Nhiều người Việt, người Hoa, người Miên, người Pháp, một số dân tộc thiểu số ở miệt biên giới như người Tà Mun v.v… đã được Ơn Trên thâu nhận qua các buổi đàn cơ.
-
Người tín đồ Cao Đài tin rằng các bậc Giáo Tổ từ Nhứt Kỳ đến Nhị Kỳ Phổ Độ đều là sứ giả của Đức Chí Tôn Thượng Đế. Vậy gốc của các Đạo trong hai thời kỳ đó vẫn là Đại Đạo.
Đến khi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ khai minh sau Nhị Kỳ trên 25 thế kỷ với tôn chỉ "Tam Giáo qui nguyên, Ngũ chi phục nhứt", nhân sanh thường nhận định đây là sự tổng hợp giáo lý Tam Giáo để lập thành một tôn giáo mới gọi là Đạo Cao Đài. Thậm chí trong buổi ban sơ đạo Cao Đài còn được tạm gọi là "Boudhisme renouvé", tức là " Phật Giáo canh tân".
Hiểu đơn giản như ý trước, đúng nhưng chưa đủ; nói theo cách sau là nói đại khái.
-
Nói đến Đao Thầy, tức là nói đến Đao của Thương Đế. Và “nói đến Đao của Thương Đế”, trước nhất phải xác minh “có Thương Đê” hay xác nhân “Thượng Đế hiên hữu”. Kế đến giải thích ý nghĩa 2 chữ “Đao Thầy”.
Chữ “Đạo” đã đươc các thư tịch Cổ Kim –Đông Tây diễn giải như “Bản thể” , như nguồn gốc của vũ trụ vạn vật; nhưng cụm từ “Đạo Thầy” vừa mang ý nghĩa bản thể vừa có ý nghĩa một “chủ thể” vận động thúc đẩy vạn vật hướng về cứu cánh do “ Thầy” đặt định
-
Mở đầu
Nhìn lại lich sử tôn giáo thế giới, qua Nhất kỳ, Nhị kỳ Phổ Độ, Đức Thượng Đế đã trao Quyền pháp cho các đấng Giáo Tổ giáng phàm cứu độ chúng sanh. Nhưng đến thời Hạ ngươn này, Đức Cao Đài Thượng Đế mở ra đại cuộc Tam Kỳ Phổ Độ là cơ hội mấy nghìn năm một thuở, có nhiều ưu ái đối với nhân loại để chuyển đời mạt kiếp sang đời Thánh đức, nên cơ cứu thế Kỳ ba hội tụ nhiều sự kiện hi hữu.
_ Đại nguyện của Đức Chí Tôn, đích thân lâm phàm mở Đạo là một hi hữu
_ Ngài giáng phàm vượt thời gian không gian bằng ân điển huyền diệu đến với mọi người mọi nơi từ ngỏ ngách đến thâm sơn cùng cốc không phân biệt sang hèn quý tiện, dân tộc lạc hậu hay tiến bộ giác ngộ nhân sanh cho kịp cơ thay phàm đổi thánh cuối cùng là một hy hữu chưa tùng có.
-
Cách đây 2005 năm, Chúa Giêsu đã giáng sinh trong thân phận làm người để mở con đường đưa con người tìm đến sự bình an nơi cõi thế, đồng thời dẫn dắt con người trở về Nước Trời là quê hương xưa cũ sau khi rời bỏ xác thân tứ đại. Kỷ niệm ngày Chúa giáng sinh phải được hiểu là một sự nhắc nhở những ai có niềm tin nơi Đấng Cứu Thế hãy thắp lên ngọn tâm đăng để tìm thấy sự cứu rỗi từ Ngài.
-
Phật Tiên Thần Thánh rộn ràng,
Đồng vâng ngọc sắc cứu an cõi trần.
Hiện diện trên cõi trần này, con người cũng đã trải qua nhiều kiếp. Trả hết nợ từ vô lượng kiếp, chúng ta mới có thể trở về. Đạo Thầy mở cơ tận độ, chỉ tu một kiếp được đắc vị, gọi là ”Tu nhứt kiếp, ngộ nhứt thời”. Cõi Thiêng Liêng không phải là nơi ở của những con người còn nặng nợ. Nhưng làm sao trả hết nợ chỉ trong một kiếp đời ngắn ngủi. Con người sẽ không chịu nỗi cảnh nghiệp quả dồn dập. Do đó, nếu không có Đại Ân Xá, các nguyên nhân khó trở về. Tân Pháp Cao Đài chỉ rõ: Nếu công quả là để giải trừ nghiệp quả, và cũng là đường dẫn đến Bạch Ngọc Kinh, thì công trình là chìa khoá mở cửa Bạch Ngọc Kinh và ngôi vị của chúng ta do phần công phu tu luyện vậy.
