Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Chùa là cơ sở hoạt động và truyền bá Phật giáo. Tuy nhiên, chùa Việt Nam ngoài thờ Phật còn thờ thần (Chùa Thầy - Hà Tây và Chùa Láng - Hà Nội thờ Từ Đạo Hạnh và Lý Thần Tôn), thờ tam giáo (Phật - Lão - Khổng), thờ Trúc Lâm Tam tổ...
-
Thời kỳ mạt pháp là thời kỳ được bắt đầu từ sau khi đức Phật nhập niết bàn 1500 năm, được khái lược trong ba điều trọng yếu: Có giáo lý, không hành trì, không quả chứng.
Chư Tổ sư giảng về điều này như sau: Thời mạt pháp chẳng phải là không có người hành trì. Song kẻ hành trì đúng theo giáo lý rất ít, hầu như không có, nên mới gọi là không hành trì. Mà bởi hành trì không đúng nên không có người chứng đạo. Bởi thế nên chư Tổ thường than: “Người học đạo nhiều như lông Trâu, người đắc đạo như sừng Thỏ.”
-
Cứ mỗi lần có dịp qua vùng Quế Võ (Bắc Ninh), khi đi vào quãng đường quen thuộc, tôi không sao kìm được nỗi khát khao thôi thúc phải cố nhìn kỹ, cố đếm lại những "lốt chân ngựa Thánh Gióng". Trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, cụ Nguyễn Đổng Chi còn ghi: "Ngày nay chúng ta còn thấy dấu vết những dãy ao tròn nối nhau kéo dài suốt từ Kim Anh, Đa Phúc cho đến Sóc Sơn, người ta bảo đó là những vết chân ngựa của Thánh Gióng. Khu rừng bị ngựa sắt phun lửa thiêu cháy còn mang cái tên là làng Cháy".
-
Nói đến Giuđa Iscariốt, ai cũng biết, Oâng là kẻ phản bội Chúa Giêsu, là kẻ bán đứng Thầy mình. Nhưng khi tranh luận về Giuđa thì nhiều thắc mắc được nêu lên: Giuđa là kẻ có công hay có tội? Là bậc ái quốc đại trượng phu hay là kẻ phản bội tiểu nhân? Giuđa lên thiên đàng hay xuống hoả ngục?
Mùa Chay lại đến, một lần nữa, tôi và bạn cùng nhìn lại gương mặt nhiều màu sắc ấy của một người từng là môn đệ Chúa. Mùa Chay là dịp thuận tiện để tôi và bạn soi mình vào “tấm gương Giuđa” mà nhìn thấy rõ thân phận yếu đuối, mỏng giòn của con người mình chẳng khác gì con người tội lỗi Giuđa ngày xưa. Để rồi từ đó, tôi và bạn xin ơn biến đổi và cảm nghiệm sâu xa hơn lối đường chúng ta đang chọn, đang dấn thân, cũng như xin ơn nhận ra tình thương bao la của Thiên Chúa dành cho con người và dành cho ơn gọi của tôi và bạn.
Thường khi nói đến Giuđa, n
-
1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TRÌNH
Tam công trong đạo Cao Đài gồm công quả, công trình và công phu, là hệ thống pháp môn (phương pháp tu hành) trong đạo Cao Đài. Công quả là những điều tốt đẹp mà bản thân tác động đến chúng sanh qua tư tưởng, lời nói và hành động (giúp đời). Công trình là quá trình hoàn thiện hóa bản thân để trở nên một người tác phong đạo hạnh, hiền nhân quân tử (tu thân). Công phu là quá trình tham thiền nhập định diễn ra bên trong nội thân con người (tu tâm). Công quả, công trình và công phu là thế chân vạc vững chắc giúp người tín hữu Cao Đài quân bình từ nội tâm đến ngoại thể để có thể hoàn thành sứ mạng tiến hóa tại trần gian và siêu xuất thế gian. Công trình và công quả là nền tảng để thực hành công phu.
-
Trong "Lịch trình hành đạo" của Đức Lê Đại tiên ban cho Cơ quan Phổ thông Giáo lý, nơi phần huấn luyện Giáo sĩ, Vụ trưởng, "Pythagore giáo" được sắp cùng một hạng mục với Phật giáo, Thích ca giáo, Bà la lôn giáo, có nghĩa Pythagore cũng được xem là một tôn giáo.
-
Động tác tuần huờn Tạo Hóa cơ,
Băng tiêu noãn nhựt định thiên thơ,
Cao Đài xuất thế khai tân hội,
Tận độ quần linh phục thái sơ.
-
“Ngày nay, cuối đường Hạ nguơn mạt kiếp, nhân sinh đã theo thời gian luân chuyển vào luật đào thải và bảo tồn. . . . Thượng Đế chính mình giáng trần chọn lựa nguyên nhân thánh thiện trao gởi quyền pháp để phổ độ toàn linh xiển dương chánh pháp cho Đại Đạo lập thành, thế giới mới hòa bình, càn khôn mới an tịnh. Một hành vi rất giản dị mà lý huyền nhiệm khôn lường. Nếu chẳng phải chánh tâm tu kỷ thì khó tìm ra chánh lý để chứng quả Thiên tôn.” ( Đức Di Lạc Thiên Tôn, Tuất, 2.01.C.Tuất (7.2.70) tr.2)
-
NHO TÔNG VÀ SỨ MẠNG ĐẠI ĐẠO
Đức Chí Tôn khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ với tôn chỉ “Tam giáo qui nguyên, ngũ chi phục nhất” và mục đích “Thế đạo đại đồng, thiên đạo giải thoát.”
Trong tôn chỉ Đại Đạo, Tam giáo có Nho giáo là đạo trị thế, ứng với thế đạo đại đồng trong mục đích Đại Đạo.
Như thế, Nho tông có vai trò rất quan trọng trong sứ mạng Đai ĐạoTam Kỳ Phổ Độ. Điều đó còn được ghi nhận qua sự tôn xưng Đức Khổng Thánh Tiên Sư là “Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn” và đường lối “Nho tông chuyển thế” trong Tam Kỳ Phổ Độ (TKPĐ).
Vậy, để nhận định đúng mức công năng “chuyển thế” của Nho tông, chúng ta có thể lần lượt tìm hiểu tông chỉ của đạo Nho qua các kinh điển của thánh nhân.
Nhằm qui chiếu tông chỉ ấy vào sứ mạng Đại Đạo, ta sẽ khảo sát theo ba góc độ:
_Tu thân
_Thế đạo
_Thiên đạo
-
Năm 1947, hai mươi năm sau khi bắt đầu tạo dựng Thánh Địa Tây Ninh, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc một hôm vui miệng có kể câu chuyện sau:
"Việc khai phá rừng già không phải là việc dễ. Nhơn công phải đương đầu với muôn ngàn nỗi gian lao khổ ải. Khó chịu nhứt là bệnh sốt rét rừng, chói nước. Chư tín hữu người Việt ở lục tỉnh lên làm công quả không chịu nổi với trận giặc rét này. Công quả được ít ngày thì các vị ấy lần lượt xin về hết. Nếu tình thế ấy cứ tiếp tục thì không biết khi nào mới khai phá xong khu rừng.
Nhưng may thay ! Ơn Trên chuyển số người Tần Nhơn (Cao Miên) đến làm công quả có đến vài trăm người. Họ là những người lực lưỡng, chịu nắng, chịu mưa giỏi lại quen với lối sống trong rừng nên làm việc đắc lực lắm. Có điều này đặc biệt là trong số hai trăm nhơn công ấy lại có một người là cốt của một vị Thần...
-
Hôm nay, tôi xin được phép dùng nội dung “Cảm ứng luận” để trình bày phần nói về cái nghĩa cảm ứng theo Đạo giáo. Sau đó, là sự dẩn dụ lý cảm ứng qua lời dạy của Thánh nhơn và về lý cảm ứng trong hai đường lành dữ : hễ cảm lành thì ứng lành, cảm dữ thì ứng dữ. Phần tiếp theo sẽ luận đến cảm ứng theo Thích giáo và Nho giáo và sau cùng là hiệp lý tam giáo để luận cảm ứng trong phương tu “ Phản bổn huờn nguyên”.
Phần trình bày sẽ có các đề mục sau đây:
1. Nghiên cứu về ý nghĩa cảm ứng của Đạo giáo;
2. Dẩn dụ cảm ứng trong Thánh ngôn;
3. Chỉ rõ lý cảm ứng trong hai đường lành dữ;
4. Luận về cảm ứng theo Thích giáo và Nho giáo;
5. Kết luận hiệp lý tam giáo.
6. Cảm ứng trong phương tu “Phản bổn huờn nguyên”
-
1. Đạo Cao Đài do ai sáng lập ?
Đạo Cao Đài do Đức Cao Đài Thượng Đế tức Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế mà Thiên Chúa giáo gọi là Đức Chúa Trời,11 Do Thái giáo gọi là Đức Jéhovah ; Hồi giáo gọi là Đức Alah sáng lập tại nước Việt Nam vào đầu thế kỷ XX qua các sự kiện chính yếu sau đây :
- Vào đầu năm 1921, qua phương tiện thông linh bằng cơ bút (giáng cơ), Đức Thượng Đế lần đầu tiên xưng danh là "Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát" và chánh thức thâu nhận Ngài Ngô Văn Chiêu làm đệ tử đầu tiên.
- Sau khi các vị Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang vâng lịnh làm lễ vọng thiên cầu đạo vào ngày mùng 1 - 11 - Ất Sửu (16-12-1925); ngày 19-12-1925 Đức Thượng Đế giáng cơ mừng cho các Ông :
"Mừng thay gặp gỡ Đạo Cao Đài"
Đêm Lễ Giáng Sinh 24-12-1925, Ngài giáng cơ dạy như sau:
"Ngọc Hoàng Thượng Đế Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát Giáo Đạo Nam Phương,
"Muôn kiếp có Ta nắm chủ quyền,
Vui lòng tu niệm hưởng ân thiên;
Đạo mầu rưới khắp nơi trần thế,
Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên."
(TNHT, QI,1973, tr.5)
Vậy Đạo Cao Đài do Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế tức Đức Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát sáng lập.
