Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Đây là một phán quyết phá chấp triệt để của Đức Giáo Tông Vô Vi Đại Đạo.
Thuần chơn vô ngã là tinh thần phá chấp hoàn toàn, đến mức không còn chấp đạo, chấp pháp, chỉ thấy chỗ nhứt nguyên nhứt lý của vạn tượng, không còn đối đãi phân biệt, trực nhận được chân lý, tức là Đạo.
-
1. Tầm quan trọng của việc xây dựng thế hệ tiếp nối
Sao gọi là thế hệ tiếp nối? Thế hệ có nghĩa là những người cùng một thời, cùng một giai đoạn, một lứa tuổi. Lớp trước sinh ra lớp sau, lớp sau sanh lớp sau kế tiếp. Tiếp nối liền theo sau của lớp trước, tạo thành sự liên tục từ đời này sang đời kia. Thế hệ tiếp nối mang tính liên tục, không gián đoạn, nếu không có thế hệ kế tiếp là bị đứt đoạn một thế hệ, không tiếp tục được sự nghiệp người trước. Người tiếp nối rất quan trọng vì có sự kế thừa, chọn lọc sáng tạo của người sau làm cho gia đình, tổ chức, quốc gia phát triển theo chiều hướng tiến bộ, cho nên việc đào tạo, xây dựng một ý thức hệ là vô cùng quan trọng. Xây dựng hàng ngũ tiếp nối ví như tre già phải có măng tươi tốt, một cánh rừng được thay thế bởi những cây đầy tược mầm non xanh tươi, tràn đầy nhựa sống. Nếu một gia đình không có con cháu kế thừa, gia đình sẽ buồn tẻ lúc tuổi già, thuộc vào nhánh tuyệt diệt trong gia phả của dòng họ.
-
Đại Đạo là con đường rộng lớn nhứt để đưa nhân loại đến đại đồng thế giới, không kỳ thị phân chia, phù hợp xu hướng văn minh tiến bộ, tạo cảnh giới an lạc hòa bình, hạnh phúc trần gian, và siêu xuất thế gian; đó cũng là chiếc Bát nhã thoàn đưa khách năm châu đến cứu cánh tận độ.
-
Ta không bảo các em chinh phục thiên hạ, mà bảo các em tự thắng các em và phục vụ cho thiên hạ. Hãy lấy niềm vui khi làm cho kẻ khác. Hãy lấy làm hãnh diện khi xả thân cho tha nhân.”(Ngọc Minh Đài, 29–12 Bính Ngọ (08–02–1967).)
-
Hai thiên Đại Học và Trung Dung trong Tiểu Đái Lễ Ký có ảnh hưởng rất lớn trong triết học Trung Quốc sau này. Chu Hi 朱 熹 (1130-1200) xem Đại Học là của Tăng Tử 曾 子 , còn Vương Bách 王 柏 (1197-1274) xem nó là của Tử Tư 子 思 (cháu nội Khổng Tử).(hình bên )[1]
-
Từ khi Đức Chí Tôn khai Đạo, Thầy đã nhiều lần nhắc nhở môn đồ rằng, Thầy mở Đạo kỳ này là thực hiện đại cuộc Qui nguyên.
Qui nguyên có nghĩa là trở về nguồn gốc sau những thời kỳ vạn sự, vạn vật được sanh hóa cùng cực, lại đến giai đoạn quay về chỗ khởi sanh. Gốc chỉ có một, mà ngọn thì thành muôn. Vì thiên hình vạn trạng nên các loài đều khác nhau về hình thức. Đối với loài người, chẳng những khác nhau về màu da sắc tóc, mà về tinh thần và tư tưởng lại càng có nhiều dị biệt. Từ đó nảy sinh khái niệm “Bản thể - hiện tượng” là hai phạm trù đi đôi như Âm với Dương, nhưng có những mối tương quan mật thiết.
Để giải thích lý tương quan ấy, các đạo gia nêu lên chủ thuyết “Đạo là Mẹ của muôn loài” (1), Nho gia nói “Thiên địa vạn vật đồng nhất thể”, Phật nói “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”. Các triết gia thì đề cập khái niệm “phổ quát đối ứng với bản sắc đa thù”. Về văn hóa, một triết gia viết: “Văn hóa nhân loại, trong bất kỳ trường hợp nào cũng không thể quy gọn ở mức là tổng số của những nền văn hóa riêng biệt. Bởi vậy, Goethe kêu gọi các nhà thơ, các nghệ sĩ và các nhà tư tưởng hãy ra khỏi cái khung dân tộc mà Herder và các đồ đệ của ông khuôn họ vào.” (2)
-
Biết tiềm thức còn chôn đủ nghiệp,
Khi móng lên mau kịp ngăn phòng;
Ma ngoài hiệp với ma trong,
Ngơ đi chớ tưởng lặng lòng quên thân.
-
Qua hơn 40 năm học Đạo và hành đạo tại Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, nhứt là qua những trải nghiệm sau gần 20 năm nghiên cứu Sử Đạo, tiếp xúc thân cận với người đạo Cao Đài khắp Nam, Trung, Bắc, bản thân chúng tôi nhận thấy nhiều địa phương thiếu vắng lớp kế thừa, có nơi rất thiếu. Và nghiệm ra rằng, trong những nguyên nhân, nguyên do cốt yếu là “thiếu giáo lý”.
Đó là nguyên nhân chánh khiến nên chúng tôi muốn viết ra một số “Những điều người tân tín đồ Cao Đài cần nhớ và tìm hiểu thêm” với hy vọng góp phần nhỏ vào việc giúp cho những ai đang chuẩn bị, hay mới nhập môn đạo Cao Đài, ý thức một cách rõ ràng việc vào Đạo của mình. Qua đây, cũng hy vọng những vị “cao niên đạo” thấy rõ nhu cầu giáo lý của đàn em để kịp thời đáp ứng, đồng thời góp ý kiến cho loạt bài này thêm phong phú, thêm sâu sắc, thêm nhiều thí dụ điển hình ….
-
Thi văn Đức Bồ Tát trong Kinh Tam Nguơn Giác Thế
Nhựt hoành nhị thập kiến giai thì
Lục nhựt đạo thành hiệp nhứt chi
Thứ kỷ thương nhơn tâm bất tại
Nhị nhơn thê mộc diệc nguyên quy
-
“Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất.” (Mạnh Tử)
Đây là chuyện tôi nghe. Một cô gái mới tập tễnh vào đời than thở với cha về những gian nan bất trắc của cuộc sống đầy thử thách khắc nghiệt. Dường như mỗi khi cô vừa giải quyết xong một vấn đề thì lại có một vấn đề khác chực chờ sẵn! Cô cảm thấy đuối sức và muốn buông xuôi…
-
Phụ nữ là con người, mà con người thì đã có sẵn vị thế cao trọng đuợc Đấng Tạo Hóa ban cho là thay Trời cai quản muôn vật nơi chốn hữu hình. Không ai lấy được vị thế đó của con người. Chỉ có con người tự chối bỏ vị thế thiêng liêng của mình.
-
Trong nhiều Kinh sách Nho Giáo, từ Hoàng Cực đã được trân trọng nhắc đến. Hoàng Cực được xem như Vương đạo, chuẩn mực trị nước của những minh quân Trung Quốc thời xưa.
Nhạc và lời: Trần Bửu Long
Con có người bạn biết bay là tiếng chuông tiếng chuông tiếng chuông ở trong thánh đường. Khi con đọc kinh tiếng chuông chìa đôi cánh chở con thăm thiên đường. Gió lồng lộng bên tai ngắm Phật ngắm Tiên không muốn quay trở về.
Nhạc và lời: TRẦN BỬU LONG
Vui hát trong câu ca là la la la. Đôi bướm vui tung tăng lượn trong muôn hoa. Đường về Đài Cao đường chung của muôn nhà. Mình cùng vang ca quên mất đường xa.
Nâng bước chân em đi đường xa xa ơi. Vang tiếng vang em ca về trao muôn nơi. Ngày này học Đạo Cao ngày sau sẽ giúp đời. Chờ bình minh lên tung cánh ngàn khơi.
Nhạc và lời: Thiện Quang
Dưới bóng cờ Đại Đạo, một bóng cờ Đại Đạo,
Là Việt nam, ta chung dòng máu; Nam Bắc Trung, chỉ một Đài Cao.
Đem đạo ra chúng sinh, Một non sông một nghĩa tình,
Cao Đài vẫn chung gia đình, Về đây với màu áo trắng;
Chung cùng một ước mơ, Một tâm tư một bóng cờ,
Cao Đài quyết tâm phụng thờ, Kỳ ba nhân thế mong chờ.
Hò lơ hó lơ hó lơ.
Sáng muôn phương! Ánh đạo quê hương!
Chợt nhớ bao người trải nắng dầm sương
dâng hiến cuộc đời để cờ cứu độ tung bay,
đất nước ngàn năm vọng vang tiếng kinh Cao Đài.
Đạo gốc bởi nơi tấm lòng tín thành hiệp hòa,
Dẫu nắng dẫu mưa đức tin càng thêm thiết tha,
Khí phách Tiền giang như Thái sơn một thời khai phá,
Áo trắng Hậu giang như mây trời vạn thuở không nhòa.
Rực sáng khắp trời Đông, Ánh Đạo từ đất Lạc Long,
Trăm năm khéo bận lòng, Thế gian là sắc là không;
Tâm chí đại đồng cũng là tấm tình non sông,
Cứu thế kỳ ba hạ nguơn xứng danh Tiên Rồng.
Ôi non linh nước thiêng, Chừ ai con Rồng cháu Tiên,
Kỳ ba chấn hưng chân truyền, Cho hiển vinh ngàn năm văn hiến;
Đây Trung Châu núi sông, Trường Sơn bên bờ biển Đông,
Trời Nam đắp xây đại đồng, Để năm châu cùng hưởng ân hồng.
Khoan hỡi khoan khoan hò.
Có ai về, ai về miền Trung nước tôi,
Để nghe câu kinh tứ thời núi sông bồi hồi.
Cờ Đạo in bóng trong lòng đất,
cờ Đạo in bóng trong hồn nước,
Để xây thánh đường, ngôi thánh đường nội tâm thế nhân.
Đem thương yêu đắp xây nhân hòa,
đem trung kiên đắp xây bửu tòa,
Cho Đông Tây Bắc Nam chung tình,
Cho năm châu, bốn phương thái bình,
Ôi Việt nam gấm hoa, Này Nam quan này Bắc hà,
Dốc lòng phát huy đạo nhà, Kỳ ba dưới đại ân xá;
Khai nguồn mạch Thánh Tâm, Kìa Giao Châu Đạo khởi mầm, Kiếp người nổi trôi thăng trầm, Trời đêm thắp ánh trăng rằm.
Tuyết sương đã phủ đầu non, sương tuyết đầu non (ối a đầu non); Hiên tây gió lạnh từng cơn, bóng trăng đã tròn (ối a trăng tròn);
Thế trần giữa thời Hạ nguơn, muôn lối ngược xuôi biết đâu dại khôn? Ngọc Kinh ai nhớ lối về, lối về cung son (ối a cung son).
Bước chân sứ mạng đường xa, chân bước đường xa (ối a đường xa); Thương nhau, gắng lòng cùng nhau đắp xây nhân hòa (ối a nhân hoà);
Bóng cờ cứu độ kỳ ba đưa bước vạn linh đến bên Trời Cha; Dụng cơ thánh đức thái hòa, trẩy hội Long Hoa (ối a Long Hoa).
Chung nhau muôn cánh tay, Đài Cao ta cùng đắp xây,
Việt Nam sáng danh đạo Thầy, Giương khắp nơi ngọn cờ nhân ái;
Bao la trên ngũ châu, Dù Đông Tây dù Á Âu,
Tình thương trải ra hoàn cầu, Để nhân tâm rực ánh đạo mầu.
Dưới bóng cờ Đại Đạo, một bóng cờ Đại Đạo,
Đường kỳ ba quy nguyên tam giáo,
hiệp ngũ chi chung một Đài Cao.
Dưới bóng cờ Đại Đạo, một bóng cờ Đại Đạo,
Cả quê hương chung màu áo, cả nhân loại cùng Đài Cao;
Cả quê hương chung màu áo, cả nhân loại cùng Đài Cao; nhân loại cùng Đài Cao.
Nhạc và lời: Võ Thành Văn (1985)
Tuổi xuân ơi, nhiệt huyết đang dâng trào,
vì ngày mai, hãy đứng bên nhau,
Dù nơi đâu, tuổi xuân khắp năm châu,
xin bắt chung nhịp cầu, hàn gắn tình nhân loại.
Đến với nhau, vượt trùng khơi ngăn cách.
Xóa tan biên cương, vượt qua muôn oán thù.
Kết liên lòng người, này tình thương Chí Tôn,
Mang đi muôn phương, sưởi ấm muôn tâm hồn.
Bạn tôi ơi, ta là nhân loại!
Vàng, đen, trắng, vẫn anh em cùng Cha.
Nào, chung tay xây dựng nhân hòa!
Cùng thế giới, là cùng mái nhà.
Bạn năm châu, đâu còn xa lạ.
Ngàn ngôn ngữ, hãy ca chung bài ca.
Tuổi xuân ơi, gió lộng chân trời
Bắt tay nhau đi, tình bạn đón mời.
Trên đường dài con đi, muôn ngàn hoa nở rộ.
Trên đường dài con đi, Thiên thần du dương hát.
Mẹ ơi Mẹ, Mẹ dẫn bước con đi.
Mẹ ơi Mẹ, Mẹ tiếp sức con đi.
Cây trên rừng, có bao nhiêu lá, Mẹ thương con kể đã nhiều hơn. Nước trên nguồn, chảy bao nhiêu giọt, hồng ân Mẹ nhiều hơn.
Con xin cúi đầu trước tình thương bao la của Đức Mẹ kính yêu. Con xin làm giọt tình thương trong mắt Mẹ - đại dương.
Ca sĩ:Trọng Nghĩa
Hò ơi... Gặp mối chơn truyền, đời có mấy người đâu.
Sương trắng mái đầu, thời gian như bóng câu.
Tháng năm chẳng chờ, những ai hững hờ.
Long Hoa vẫn mở khoa kỳ nơi thế gian.
....
Đã mang nợ non sông, há đi về tay không?
Chút cơ nghiệp Tiên Rồng, đạo Trời in bóng... hò ơi, Điểm tô tòa Cao Đài, để dân Việt nhớ hoài, sứ mạng độ nhân loài.
Màu vàng, màu xanh, màu đỏ - ngọn cờ Đại Đạo Cao Đài.
Giữa bầu trời cao lộng gió, lá cờ tung bay, tung bay.
Màu vàng là màu Phật giáo.
Màu xanh là màu đạo Tiên,
Màu đỏ là màu Nho giáo,
Cả ba màu Tam giáo quy nguyên.
"Non linh đất thánh trời xuân,
Đường trần bao dấu chơn quân lạc loài;
Lộc Trời đã giữ trong tay,
Đạo Trời vun quén ngày ngày cho xinh."
Đức Lý Giáo Tông Vô Vi Đại Đạo, Minh Đức Tu Viện, Tuất thời, 25-01 Giáp Dần (16-2-1974)
