Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
SƠ LƯỢC về HUYỀN BÚT CƠ trong ĐĐTKPĐ.
Tý thời 14 rạng 15 tháng 3 Mậu Thân 1968, một buổi đàn cơ đặc biệt được tiến hành tại Tam Giáo Điện Minh Tân, bến Vân Đồn quận tư Sài Gòn. Đặc biệt, là do bởi đàn cơ nầy được thực hiện không theo phương cách và hình thức cầu cơ thông dụng của Cao Đài Giáo: dùng đồng tử thủ Đại Ngọc Cơ để Ơn Trên giáng điển viết chữ cho độc giã đọc hoặc cho đồng tử xuất khẫu. Trái lại trong buổi đàn cơ nầy, các đấng Thiêng Liêng dùng huyền linh điển làm cho một ngòi bút nhỏ được treo bằng một sợi chỉ tự động di chuyển trên một bảng chữ cái tiếng Việt. Ngòi bút di động đến mẫu tự nào thì đọc giả xướng lên cho điển ký ghi lại chữ đó và cứ thế mà ráp vần. Theo tài liệu còn lưu lại, số người dự buổi đàn đặc biệt đêm hôm đó gồm: bộ phận hành sự Huyền Cơ, bộ phận Hiệp Thiên Đài và nam nữ đạo hữu, tất cả là 106 vị.
-
Mùa tu Xuân Phân lại về với chúng tôi. Nhớ lại trước đây, mỗi độ gần tới mùa tu thì Đức Lão Tổ có dạy đại ý như vầy.
“Người hành giả có ý thức giác ngộ thì cứ mỗi độ đến mùa tu, hãy lo sắp xếp mọi việc để khép mình vào tịnh đường mà tịnh luyện để nhiếp thâu chỗ giao dịch của Đất Trời để bồi dưỡng thân tâm. Chớ không phải đợi đến khi có lịnh Thiêng Liêng mới làm và khi làm ý niệm của mỗi người không giống nhau, có người làm là vì Thánh Lịnh. Nếu không làm thì sợ đắc tội với Ơn Trên, cho nên làm để trả lễ hoặc để chiếu lệ. Cũng có những người làm để được Ơn Trên chấm công, ban ơn, phù hộ mình đắc đạo”.
“Như vậy thì việc làm đó cảm thấy bị bắt buộc, gò bó chớ không phải do từ trong đáy lòng của mình thúc bạch, thiết tha với vị Đạo, mùi thiên v.v..”
-
Người tín đồ Cao Đài hàng ngày bắt đầu thời cúng của mình bằng bài kinh Niệm Hương với hai câu đầu: “Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp. Lòng nương nhang khói tiếp truyền ra…”, sau đó tụng đến bài Khai Kinh: “Biển trần khổ vơi vơi trời nước…”.
Có thể nói, tất cả tín đồ Cao Đài đều thuộc nằm lòng hai bài kinh này, nhưng cũng có thể
nói, ít người biết rằng hai bài kinh trên có gốc từ chi đạo Minh Lý (Tam Tông Miếu)1
-
Yếu tố quyết định của hạnh là tâm.
Sau khi nhập môn, chúng ta phải có ngôn ngữ, cử chỉ khác hơn hôm trước, Ơn Trên dạy phải "khác hơn người thế tục". Đó là tác phong đạo hạnh.
Hạnh là sự thể hiện của tâm, đức bên trong hành giả qua ánh mắt, khuôn mặt, lời nói, hành động. Đức Cao Triều Tiền Bối dạy "Tâm đức là bát nhã thoàn đưa người qua bĩ ngạn. Tác phong đạo hạnh gây sự cảm mến đến nhơn tâm giác ngộ."[1]
Đức Mẹ dạy:
"Tiền nhân xưa chỉ đoan sửa tánh,
Mà kết chung nhập thánh siêu phàm;
Nay con đạo hạnh vững cầm,
Dày công tu sửa sẽ làm Phật Tiên."[2]
[1] CQPTGL, 11-02 nhuần Ất Sửu.
[2] CQPTGL, 03-8 Mậu Ngọ.
-
Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, 04-3 Quí Sửu (06-4-1973)
-
Ấn Độ và một số vùng của Nam Á và Đông Nam Á; nhiều học giả Phật học tại các nước Đông Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan và Việt Nam cũng có thể dùng được tiếng Phạn.
Số người nói như tiếng mẹ đẻ: 6.106 (thống kê 1981); 194.433 số người nói như thứ tiếng thứ hai (thống kê 1961)
-
ĐỨC CỦA NGƯỜI QUÂN TỬ
Trong phần trình bày của mình, đạo đệ lần lượt thưa qua cùng quý đạo trưởng, quý huynh tỷ, các phần có liên quan đến việc tu thân hành đạo, dựa trên cơ sở Dịch học, đồng thời kết hợp với lời dạy của Thiêng Liêng qua các nguồn Thánh giáo.
Trước tiên chúng ta tìm hiểu hai chữ quân tử được hiểu như thế nào?
-
... Nhưng điều kỳ lạ là cái sinh vật nhỏ bé này từ ngàn xưa đến ngàn sau không bao giờ ngớt cảm nhận có một sự gần gũi mật thiết giữa bản thân với vũ trụ, không ngớt tìm hiểu mối tương quan với vũ trụ, không ngớt đối chiếu con người với vũ trụ để tìm ra một nguyên lý chung, những qui luật chung của sự sinh thành, hiện hữu và tiến hóa của vũ trụ và con người.
-
Lịch sử Trái Đấttrải dài khoảng 4,55 tỷnăm, từ khi Trái Đấtcùng với Hệ Mặt Trờihình thành từ Tinh vân mặt trờicho tới hiện tại. Trái Đất buổi ban đầu ở thời Liên đại Hỏa Thànhkhông có các đại dương và cũng không có ôxitrong khí quyển. Hành tinhluôn bị bắn phá bởi các tiểu hành tinhvà các vật chất khác còn sót lại sau khi hình thành nên Hệ Mặt Trời, những vụ núi lửaphun trào diễn ra thường xuyên, hành tinh nóng như bị nấu chảy. Bề mặt dần lạnh đi, tạo nên vỏ cứng trong vòng 150 triệu năm. Hơi nướcvà khí thoát ra từ lớp vỏ khi các khí gas bị núi lửa phun lên tạo cho Trái Đất một lớp khí quyển. Các đám mâyđược tạo thành. Mưatạo nên biểnvà đại dương.
-
Trong môn họa truyền thống của Trung Quốc (thường được gọi là Quốc Họa) ta thường bắt gặp những chủ đề ước lệ quen thuộc được thể hiện với màu sắc đậm nhạt thích mắt, thậm chí những màu tươi vui sặc sỡ...
-
Những ai học Dịch đều hiểu rõ và nhớ ơn các
Thánh – Phục Hy, Văn Vương, Chu Công
Đán và Đức Khổng Tử. Đây là Tứ Thánh đã có
công chế tác, san định và hoàn chỉnh bộ Thiên
thơ Kinh Dịch cách đây mấy ngàn năm, và cho
đến ngày nay vẫn được hậu thế tiếp tục học hỏi,
nghiên cứu để áp dụng theo những lời dạy của
các Thánh xưa trong bộ Kỳ Thư Bảo Điển này.
Tài liệu viết về Đức Chu Công rất hạn chế –
chỉ có trong quyển Luận Ngữ và Trung Dung ở
chương 19. Nhưng không vì vậy mà chúng ta sẽ
không tìm hiểu được thân thế và công đức to
lớn của ngài. Bài viết sau đây để chúng ta tìm
hiểu Lễ đời nhà Chu.
-
Phật Tiên Thần Thánh rộn ràng,
Đồng vâng ngọc sắc cứu an cõi trần.
Hiện diện trên cõi trần này, con người cũng đã trải qua nhiều kiếp. Trả hết nợ từ vô lượng kiếp, chúng ta mới có thể trở về. Đạo Thầy mở cơ tận độ, chỉ tu một kiếp được đắc vị, gọi là ”Tu nhứt kiếp, ngộ nhứt thời”. Cõi Thiêng Liêng không phải là nơi ở của những con người còn nặng nợ. Nhưng làm sao trả hết nợ chỉ trong một kiếp đời ngắn ngủi. Con người sẽ không chịu nỗi cảnh nghiệp quả dồn dập. Do đó, nếu không có Đại Ân Xá, các nguyên nhân khó trở về. Tân Pháp Cao Đài chỉ rõ: Nếu công quả là để giải trừ nghiệp quả, và cũng là đường dẫn đến Bạch Ngọc Kinh, thì công trình là chìa khoá mở cửa Bạch Ngọc Kinh và ngôi vị của chúng ta do phần công phu tu luyện vậy.
Nhạc và lời: Trần Bửu Long
Con có người bạn biết bay là tiếng chuông tiếng chuông tiếng chuông ở trong thánh đường. Khi con đọc kinh tiếng chuông chìa đôi cánh chở con thăm thiên đường. Gió lồng lộng bên tai ngắm Phật ngắm Tiên không muốn quay trở về.
Nhạc và lời: TRẦN BỬU LONG
Vui hát trong câu ca là la la la. Đôi bướm vui tung tăng lượn trong muôn hoa. Đường về Đài Cao đường chung của muôn nhà. Mình cùng vang ca quên mất đường xa.
Nâng bước chân em đi đường xa xa ơi. Vang tiếng vang em ca về trao muôn nơi. Ngày này học Đạo Cao ngày sau sẽ giúp đời. Chờ bình minh lên tung cánh ngàn khơi.
Nhạc và lời: Thiện Quang
Dưới bóng cờ Đại Đạo, một bóng cờ Đại Đạo,
Là Việt nam, ta chung dòng máu; Nam Bắc Trung, chỉ một Đài Cao.
Đem đạo ra chúng sinh, Một non sông một nghĩa tình,
Cao Đài vẫn chung gia đình, Về đây với màu áo trắng;
Chung cùng một ước mơ, Một tâm tư một bóng cờ,
Cao Đài quyết tâm phụng thờ, Kỳ ba nhân thế mong chờ.
Hò lơ hó lơ hó lơ.
Sáng muôn phương! Ánh đạo quê hương!
Chợt nhớ bao người trải nắng dầm sương
dâng hiến cuộc đời để cờ cứu độ tung bay,
đất nước ngàn năm vọng vang tiếng kinh Cao Đài.
Đạo gốc bởi nơi tấm lòng tín thành hiệp hòa,
Dẫu nắng dẫu mưa đức tin càng thêm thiết tha,
Khí phách Tiền giang như Thái sơn một thời khai phá,
Áo trắng Hậu giang như mây trời vạn thuở không nhòa.
Rực sáng khắp trời Đông, Ánh Đạo từ đất Lạc Long,
Trăm năm khéo bận lòng, Thế gian là sắc là không;
Tâm chí đại đồng cũng là tấm tình non sông,
Cứu thế kỳ ba hạ nguơn xứng danh Tiên Rồng.
Ôi non linh nước thiêng, Chừ ai con Rồng cháu Tiên,
Kỳ ba chấn hưng chân truyền, Cho hiển vinh ngàn năm văn hiến;
Đây Trung Châu núi sông, Trường Sơn bên bờ biển Đông,
Trời Nam đắp xây đại đồng, Để năm châu cùng hưởng ân hồng.
Khoan hỡi khoan khoan hò.
Có ai về, ai về miền Trung nước tôi,
Để nghe câu kinh tứ thời núi sông bồi hồi.
Cờ Đạo in bóng trong lòng đất,
cờ Đạo in bóng trong hồn nước,
Để xây thánh đường, ngôi thánh đường nội tâm thế nhân.
Đem thương yêu đắp xây nhân hòa,
đem trung kiên đắp xây bửu tòa,
Cho Đông Tây Bắc Nam chung tình,
Cho năm châu, bốn phương thái bình,
Ôi Việt nam gấm hoa, Này Nam quan này Bắc hà,
Dốc lòng phát huy đạo nhà, Kỳ ba dưới đại ân xá;
Khai nguồn mạch Thánh Tâm, Kìa Giao Châu Đạo khởi mầm, Kiếp người nổi trôi thăng trầm, Trời đêm thắp ánh trăng rằm.
Tuyết sương đã phủ đầu non, sương tuyết đầu non (ối a đầu non); Hiên tây gió lạnh từng cơn, bóng trăng đã tròn (ối a trăng tròn);
Thế trần giữa thời Hạ nguơn, muôn lối ngược xuôi biết đâu dại khôn? Ngọc Kinh ai nhớ lối về, lối về cung son (ối a cung son).
Bước chân sứ mạng đường xa, chân bước đường xa (ối a đường xa); Thương nhau, gắng lòng cùng nhau đắp xây nhân hòa (ối a nhân hoà);
Bóng cờ cứu độ kỳ ba đưa bước vạn linh đến bên Trời Cha; Dụng cơ thánh đức thái hòa, trẩy hội Long Hoa (ối a Long Hoa).
Chung nhau muôn cánh tay, Đài Cao ta cùng đắp xây,
Việt Nam sáng danh đạo Thầy, Giương khắp nơi ngọn cờ nhân ái;
Bao la trên ngũ châu, Dù Đông Tây dù Á Âu,
Tình thương trải ra hoàn cầu, Để nhân tâm rực ánh đạo mầu.
Dưới bóng cờ Đại Đạo, một bóng cờ Đại Đạo,
Đường kỳ ba quy nguyên tam giáo,
hiệp ngũ chi chung một Đài Cao.
Dưới bóng cờ Đại Đạo, một bóng cờ Đại Đạo,
Cả quê hương chung màu áo, cả nhân loại cùng Đài Cao;
Cả quê hương chung màu áo, cả nhân loại cùng Đài Cao; nhân loại cùng Đài Cao.
Nhạc và lời: Võ Thành Văn (1985)
Tuổi xuân ơi, nhiệt huyết đang dâng trào,
vì ngày mai, hãy đứng bên nhau,
Dù nơi đâu, tuổi xuân khắp năm châu,
xin bắt chung nhịp cầu, hàn gắn tình nhân loại.
Đến với nhau, vượt trùng khơi ngăn cách.
Xóa tan biên cương, vượt qua muôn oán thù.
Kết liên lòng người, này tình thương Chí Tôn,
Mang đi muôn phương, sưởi ấm muôn tâm hồn.
Bạn tôi ơi, ta là nhân loại!
Vàng, đen, trắng, vẫn anh em cùng Cha.
Nào, chung tay xây dựng nhân hòa!
Cùng thế giới, là cùng mái nhà.
Bạn năm châu, đâu còn xa lạ.
Ngàn ngôn ngữ, hãy ca chung bài ca.
Tuổi xuân ơi, gió lộng chân trời
Bắt tay nhau đi, tình bạn đón mời.
Trên đường dài con đi, muôn ngàn hoa nở rộ.
Trên đường dài con đi, Thiên thần du dương hát.
Mẹ ơi Mẹ, Mẹ dẫn bước con đi.
Mẹ ơi Mẹ, Mẹ tiếp sức con đi.
Cây trên rừng, có bao nhiêu lá, Mẹ thương con kể đã nhiều hơn. Nước trên nguồn, chảy bao nhiêu giọt, hồng ân Mẹ nhiều hơn.
Con xin cúi đầu trước tình thương bao la của Đức Mẹ kính yêu. Con xin làm giọt tình thương trong mắt Mẹ - đại dương.
Ca sĩ:Trọng Nghĩa
Hò ơi... Gặp mối chơn truyền, đời có mấy người đâu.
Sương trắng mái đầu, thời gian như bóng câu.
Tháng năm chẳng chờ, những ai hững hờ.
Long Hoa vẫn mở khoa kỳ nơi thế gian.
....
Đã mang nợ non sông, há đi về tay không?
Chút cơ nghiệp Tiên Rồng, đạo Trời in bóng... hò ơi, Điểm tô tòa Cao Đài, để dân Việt nhớ hoài, sứ mạng độ nhân loài.
Màu vàng, màu xanh, màu đỏ - ngọn cờ Đại Đạo Cao Đài.
Giữa bầu trời cao lộng gió, lá cờ tung bay, tung bay.
Màu vàng là màu Phật giáo.
Màu xanh là màu đạo Tiên,
Màu đỏ là màu Nho giáo,
Cả ba màu Tam giáo quy nguyên.
"Non linh đất thánh trời xuân,
Đường trần bao dấu chơn quân lạc loài;
Lộc Trời đã giữ trong tay,
Đạo Trời vun quén ngày ngày cho xinh."
Đức Lý Giáo Tông Vô Vi Đại Đạo, Minh Đức Tu Viện, Tuất thời, 25-01 Giáp Dần (16-2-1974)
