Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Sách được chia làm ba phần lần lượt trình bày về ba nền tôn giáo lớn : Nho giáo, Thích giáo, và Lão giáo. Trong mỗi phần, đạo trưởng Huệ Lương đã trình bày sơ lược về thân thế, công nghiệp, đạo nghiệp của các vị giáo chủ như đức Khổng Tử, đức Thích Ca Mâu Ni, đức Lão Tử.
-
Lê Quý Đôn nguyên là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, sinh ngày 2-8-1726, trong một gia đình khoa bảng; cha là tiến sĩ Lê Trọng Thứ, quê tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, nay là thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ngay từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh, chăm học. Năm 14 tuổi, Lê Quý Đôn theo cha lên học ở kinh đô Thăng Long. Lúc ấy cậu bé 14 tuổi đã học xong toàn bộ sách kinh, sử của Nho gia.
-
Ngày 24 tháng 10 Tân Mão vừa qua, họ đạo Ngọc Điện Huỳnh Hà tổ chức lễ khánh thành ngôi Tam đài. Các phái đoàn từ nhiều Thánh thất Thánh tịnh tại TP.HCM và các tỉnh lân cận đến dự lễ thật đông đảo.
Bước vào chánh môn, khách đạo ai cũng chú ý nhìn hình tượng Long mã ngay dưới cột phướn . Lịch sử của Thánh tịnh chép rằng tượng Long mã đứng trên hồ nước trong tư thế chồm lên là do Thiêng Liêng dạy thực hiện. Đây là một di tích đặc biệt của Thánh tịnh cùng với đại hồng chung được bảo tồn qua ba kỳ tạo tác .
-
"Hãy tự biết mình" là lời khuyên có ý nghĩa rất sâu xa từ ngàn xưa của các bậc minh triết.
Đức Lão Tử sinh khoảng thế kỷ thứ VI trước CN, từng viết trong Đạo Đức Kinh (CH.33): " Tri nhân giả trí; tự tri giả minh." (Biết người là trí (khôn); biết mình là sáng suốt), nhằm đề cao đức tính tự biết bản thân, thành thật nhận định trung thực phẩm chất của chính con người mình, nên được gọi là "minh".Còn cái biết về kẻ khác là cái tri thức của giác quan hay kinh nghiệm, không cần có bản lãnh sáng suốt vượt trên tư ngã..
Triết gia Hy lạp Socrates (399 – 470 TCN) cũng nổi tiếng với phương ngôn "Hãy tự biết mình" và tự khẳng định rằng : " Có một điều tôi biết chắc chắn là tôi không biết gì cả", ý nói cái biết thế giới hiện tượng không phải là cái biết đích thật, tức không phải chân lý.
-
Đạo Cao Đài là một tôn giáo mới, được Đức Chí Tôn khai sáng vào đầu thế kỷ XX tại Việt Nam. Với quá trình truyền đạo chỉ hơn bảy mươi năm, nhiều kinh điển, thánh giáo đã được phổ biến khá sâu rộng.
Từ năm At Tỵ 1965, Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo đã được Ơn Trên dìu dắt xương minh Giáo lý Đại Đạo trên nền tảng kinh điển Cao Đài từ thời sơ khai đến nay.
Một trong những thành quả của Cơ Quan là quyển Cao Đài Vấn Đáp này, có mục đích giới thiệu Đạo Cao Đài một cách đơn giản bằng những giải đáp căn bản về nền Đạo.
Quyển sách đã được thông qua Hội Đồng Nghiên Cứu Giáo Lý Cơ Quan sau khi sửa chữa hiệu đính nghiêm túc. Tuy nhiên những ý kiến xây dựng của chư vị sẽ góp phần hoàn chỉnh công trình này hơn nữa.
Mong rằng quyển sách giúp ích được phần nào cho mọi tín hữu đạo tâm trên đường tìm hiểu Đạo Cao Đài.
Đông Chí năm Kỷ Mão, 1999
TM. Ban Thường Vụ
Cơ Quan Phổ Thông Giáo LýĐại Đạo
Hiệp Lý Minh Đạo
CHÍ HÙNG
-
Đức Gia Tô Giáo Chủ dạy tại Thánh Thất Bàu Sen vào ngày 24-12-1971
-
Đạo Phật /
Đạo Phật, hay Phật giáo, là một tôn giáo và triết lý do Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) khởi xướng, ông sinh trưởng ở miền bắc Ấn Độ vào thế kỷ 6 trước công lịch. Số người theo đạo này rất đông, nhất là các vùng châu Á...
-
CƠ QUAN PHỔ THÔNG GIÁO LÝ ĐẠI ĐẠO
HUỆ NHẪN
12/2006
NGŨ CHI ĐẠI ĐẠO
(Năm chi Đạo họ Minh)
VÀ NHỮNG LIÊN HỆ VỚI ĐẠO CAO ĐÀI
-
TÂM KINH BÁT NHÃ
Quán-tự-tại Bồ-tát, hành thâm Bát-nhã Ba-la mật-đa thời chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Xá-Lợi-Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.
Xá-Lợi-Tử! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới, vô vô-minh diệc, vô vô-minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.
-
Ngài Cao Quỳnh Cư tự là Bội Ngọc, sinh năm Mậu Tý 1888 tại làng Hiệp Ninh, tổng Hàm Ninh Thượng, tỉnh Tây Ninh. Thân phụ Ngài là cụ ông Cao Quỳnh Tuân (1844-1896) từ trần ngày 4-11-Bính Thân. Thân mẫu của Ngài là cụ bà Trịnh Thị Huệ (1853-1946), liễu đạo ngày 25-9-Bính Tuất (1946). Trong gia đình, Ngài Cao Quỳnh Diêu là con thứ ba, Ngài Cao Quỳnh Cư thứ tư (người thứ hai mất sớm).
-
Nói đến Đao Thầy, tức là nói đến Đao của Thương Đế. Và “nói đến Đao của Thương Đế”, trước nhất phải xác minh “có Thương Đê” hay xác nhân “Thượng Đế hiên hữu”. Kế đến giải thích ý nghĩa 2 chữ “Đao Thầy”.
Chữ “Đạo” đã đươc các thư tịch Cổ Kim –Đông Tây diễn giải như “Bản thể” , như nguồn gốc của vũ trụ vạn vật; nhưng cụm từ “Đạo Thầy” vừa mang ý nghĩa bản thể vừa có ý nghĩa một “chủ thể” vận động thúc đẩy vạn vật hướng về cứu cánh do “ Thầy” đặt định
-
GS Trần Văn Khê từng ước ..."được có một nơi trưng bày tư liệu hình ảnh, nhạc cụ mà bấy lâu tôi chắt chiu gìn giữ"
Trong gian phòng rộng hơn 40m2 của ngôi nhà số 32 Huỳnh Đình Hai, Bình Thạnh, TP.HCM hiện đang trưng bày kín các nhạc cụ - những kỷ vật một thời theo giáo sư Trần Văn Khê khắp bốn biển năm châu...
Audio bài thuyết minh của Thiện Chí
Diển ngâm tha1nhh giáo bài HOÁN TỈNH XUÂN HỒN
Thánh giáo Xuân : Xuân bất diêt - Diêu Hyền ngâm
Thanh giao day ve xuan
Bai2 thuyết KHAI XUÂN TÂM ĐẠO
Cảm tác đầu Xuân
Thuyết minh giáo lý đầu năm : Mùa Xuân là mùa mở đầu bốn mùa của một năm, gợi lên ý chí "Tiến đức, tu nghiệp" trên đường tu học hành đạo . . .
SỨ MANG VI NHÂN - THIỆN CHÍ Thuyết minh GL tại Thánh thất Kim Thành Long (long An)
SỨ MẠNG VI NHÂN - Thiện Chí- TMGL TẠI tHÁNH THẤT KIM THÀNH LONG (Long An)
Thuyết đạo tại Vĩnh Nguyên Tự (Thiện Chí)
