Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Các con tu luyện là để biết sống cái sống chơn thường tự nhiên tự tại của các con. Sanh vào cõi đời là phải sống bằng hậu thiên khí chất, sống bằng mọi sinh hoạt tương đồng. Nếu tương đồng mà không bị hòa đồng thì sẽ tiến hóa rất mau. Từ phàm phu nhục thể biết hòa hợp tiên, hậu nhị thiên thì tiến lên thánh thể, kim thân, phật thân không phải khó. Đã có đạo là phương tiện, phương pháp duy nhất để quay về nguồn gốc bổn lai, khốn nỗi khi vào trường tiến hóa này các con phải trải qua các lớp huấn luyện từ giáo dục thai bào cho đến tập quán gia đình xã hội cũng làm ảnh hưởng liên hệ lớn lao cho công cuộc tiến hóa của linh căn. Khi bắt đầu ô nhiễm trược chất lấp tràn, dầu những linh căn sứ mạng cũng mang ít nhiều ô nhiễm, sau mới giác ngộ vượt qua. Thế nên muốn cứu cánh một thân cũng là phải biết bao công quả, công trình, công phu tu luyện, huống hồ muốn có một cõi đời thánh đức cho nhân loại an hưởng thái bình cũng phải là những công quả công trình công phu to tát hơn tự mỗi cá thể, cộng đồng chứng ngộ mới kết quả.
-
Do bị ảnh hưởng của khuynh hướng thiên tả ở một số nước theo chủ nghĩa xã hội, nên tôn giáo ở nước ta trước đây thường được xem xét dưới góc độ chính trị và chỉ thấy những mặt tiêu cực. Khoảng độ vài chục năm trở lại đây, với quan điểm đổi mới, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam đã có cách đánh giá xem xét khá mới mẻ với vấn đề luôn được coi là “nhạy cảm và tế nhị”- đó là tôn giáo.
-
9. TU KỶ 修 己 – ĐÃI NHÂN 待 人
191. Xí giả bất lập, khóa giả bất hành. Tự hiện giả bất minh; tự thị giả bất chương; tự phạt giả vô công; tự căng giả bất trường. Kỳ ư Đạo dã, viết dư thực chuế hành, vật hoặc ố chi. Cố hữu Đạo giả bất xử. [Đạo Đức Kinh, chương 24]
【Dịch】 Nhón chân lên, không đứng được. Xoạc chân ra không đi được. Tự coi là sáng nên không sáng. Tự xem là phải nên không hiển dương. Tự kể công nên không có công. Tự khoe mình nên không trường tồn. Về phương diện Đạo mà nói, đó là các thứ thừa thải. Có người ghét chúng. Nên người có Đạo không màng.
-
Thế kỷ XVIII, Việt Nam có khoảng 11.800 làng xã. Mỗi làng có một cụm kiến trúc nghệ thuật tôn giáo đình đền chùa với hàng trăm pho tượng và nhiều đồ trang trí thờ cúng khác nhau.
-
Tìm hiểu Kinh Ngọc Lộ Kim Bàn
Là người Cao Đài không ai tránh được thổn thức khi đọc hay nghe lời nhắn gởi của Đức Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Đại Từ Tôn, Mẹ linh hồn của chúng sanh:
Hỡi Tàng linh ơi! Hỡi Tàng linh!
Có nhớ quê xưa chốn Ngọc Đình,
Quay gót mau về nơi cựu vị,
Thôi đừng dan díu kiếp phù sinh.
-
Ngài Bác Nhã Thiền Sư trong bài Chánh Pháp Nhãn Tạng – Niết Bàn Diệu Tâm đã cho chúng ta biết có bốn loại Tâm là Duyên Lự Tâm, , Tư Lương Tâm, Tích Tập Tâm và Kiến Thật Tâm hay Thể Tánh Thường Trụ. Tuy nói bốn, chớ kỳ thật cũng có một Tâm mà thôi. Đại lược cho ta thấy sự động tịnh của Tâm, Thánh Phàm của nó.Thể của Tâm ví như tánh “ướt”, Tướng của Tâm ví như nước lưu chuyển, Dụng của Tâm như sóng gió, sông ngòi, rong rêu, tôm cá, cù lao, bọt sóng. Tâm là một biển thức, sóng nổi cuồn cuộn, ầm ỉ đêm ngày là do gió “nghiệp” khởi lên. Gió là vô minh, sóng là nghiệp thức. Phá vô minh thì mọi sự an lành, mà phá được vô minh, trừ khi Bác Nhã không còn phương nào khác.
“Bác Nhã là gì ? Là “Giác”.
-
Tóm lược. Lịch trình hành đạo của Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo – phần tu sĩ có một nội dung là “Nền nhân văn học phải hiểu”. Để thực hiện một phần lịch trình hành đạocủa Cơ Quan, bài viết này trình bày khái quát về nền nhân văn học, và một bộ phận của nó là ngành nhân học.
-
I. Định hướng hành đạo của đạo Cao Đài trong lãnh vực tôn giáo/đức tin
1. Về mặt tôn giáo, thế giới đang có xu hướng toàn cầu hóa để hóa giải mọi kỳ thị, tranh chấp hay bất hợp tác trong công cuộc xây dựng xã hội đạo đức và tình thương nhân loại.
Những động thái toàn cầu hóa tôn giáo trên thế giới đang được các tôn giáo và các cộng đồng ngoài tôn giáo hoan nghinh, đơn cử như:
-
Tứ vô lượng tâm
Tứ vô lượng tâm là bốn phẩm hạnh cao thượng (Brahma Vihara) mà các vị Bồ tát phải thực hành trong đời hành đạo của mình để đạt đạo quả cao gồm có bốn tâm : Tâm Từ (metta), tâm Bi (Karuna) Tâm Hỉ (mudita) và tâm Xã (Upekkha).
-
Ngôi Vĩnh Nguyên Tự được xây cất vào năm Mậu Thân (1908) tại xã Long An, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn, nay là tỉnh Long An.
-
Trên lãnh thổ Việt Nam, nền văn minh sớm nhất là nền văn minh sông Hồng gắn liền với nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng, với quá trình hình thành nước Văn Lang đời Hùng Vương và nước Âu Lạc đời An Dương Vưong
-
Trong một lần lâm đàn trợ giúp các vị hướng đạo thực thi đạo sự, Đức Quảng Đức Chơn Tiên dạy:
“… chư hiền hãy cố gắng, không thể thiếu ba điều mấu chốt,([1]) đó là quyền pháp, minh triết, công năng đại định.
Tiên Huynh cũng giải thích thêm cho chư hiền được rõ hai chữ quyền pháp. Chư hiền đã hiểu rõ nhưng khi thực hiện thì không phát huy đúng mức, hoặc không phát huy đúng lúc đúng chỗ, làm cho tập thể rối loạn, trật tự ngả nghiêng nghiêng ngả.
Nếu thiếu minh triết thì nhận định vấn đề không rõ ràng, thiếu chân lý, tầm nhìn không cao, dùng người không hợp lý, làm cho tập thể trì trệ chậm tiến.
Thiếu công năng đại định thì không thể hiện đạo hạnh thanh cao của người tu, làm cho khảo đảo, không yên trong tập thể.
Những điều Tiên Huynh vừa nêu trên nếu không hội đủ sẽ ảnh hưởng đến việc hành đạo của chư hiền.”
Thuyết đạo tại Vĩnh Nguyên Tự (TTV. Thiện Chí)
File Audio do DIỆU HUYỀN & DIỆU NGUYÊN thực hiện
FILE AUDIO do DIỆU HUYỀN & DIỆU NGUYÊN THỰC HIỆN
AUDIO GIỚI THIỆU NỀN TÂM TRUYỀN ĐĐTKPĐ
Trích quyển TÌM HIỂU TÔN GIÁO CAO ĐÀI, CQPTGL tái bản 2013
Giáo sĩ Huệ Ý phát âm
TỔNG LUẬN VỀ CUỘC KHAI ĐẠO, LẬP ĐẠO CỦA TÔN GIÁO CAO ĐÀI
"Mùa Xuân: Mùa Khời Sắc" tác giả Thiện Chí
Như Quỳnh đọc
Thánh giáo Đức Đông Phương Lão Tổ
Cơ Quan PTGL, 01-th.Giêng Quý Hợi.
Diệu Nguyên đọc, Diệu Huyền ngâm thánh thi.
"Mẹ đến trần gianđể thưởng Xuân,
Cùng con lớn nhỏ được vui mừng;
Con mừng thưởng đặng mùa Xuân đạo,
Xuân đạo lập thành đức Thánh nhân."
ĐỨC DIÊU TRÌ KIM MẪU
Cảm khái khí Xuân, nhìn lại cuộc đời diễn biến, rồi tự an ủi trước những sắc Xuân nhen nhúm đó đây của tình người, liên hệ đến đức háo sanh của Tạo hóa đã an bài trong vạn vật, ta hãy đặt tên cho Xuân nầy là "Xuân thân hữu - tha thứ - hiến dâng."
THIỆN CHÍ
Nhạc và lời: BỬU LONG
Tìm đến nơi nào còn đầy bóng tối. Lặng bước chân đi dù đường xa dịu vợi. Về bóng đêm đen lữ khách mang trong hành trang, một niềm tin vô biên, một ánh sáng vô vàn. Tỏa sáng cánh chim bay về phương xa, người vẫn bươc đi dặn lòng không ngơi nghỉ.
Bạn với trăng sao, ơi gió, ơi mây, hãy cùng ta; bể khổ cho vơi đi, niềm vui đến cho muôn loài.
Đây ngọn đuốc Cao Đài,
rực soi bao đêm đen tối ám,
cho bóng tối từ nay rủ sạch màu ảm đạm,
lệ hờn căm thành dòng nước mắt ướt niềm vui.
Chân lý, tình thương, trong mắt sáng môi cười.
Viễn khách ơi, cho ta theo với.
Dẫu đường dài, dẫu chông gai,
người mãi bước mới vững vàng như những bước đã qua, để nối lại gần những ánh mắt nơi xa.
