Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Thân gởi tất cả anh chị em toàn Cơ Quan,
Cơ Quan vừa trải qua một thử thách hết sức nặng nề có thể ảnh hường đến sự tồn vong của Sứ mạng Cơ Quan PTTGLDD, lẫn cơ đạo chung.
Trước nguy cơ đó, nếu chúng ta không bình tỉnh tìm ra giải pháp thích đáng mà quá dao động nội tâm, vô tình hay cố ý làm cho tập thể/cá nhân hoang mang, phát sinh những động thái nong nỗi, hậu quả nội tình trở nên phức tạp, CQ sẽ như con thuyền không bến (!)
Nếu phải bó tay, thì từ trên xuống dưới đều phải thọ tội duới chân Thầy và Đức Giáo Tông, và không còn mặt mũi nào nhìn lại đàn em đang trông chờ sự dẫn dắt trên đường hoằng giáo độ nhân như bài nguyện CQ mà tất cả luôn tâm niệm.
-
Ngoài cuốn ĐẠO ĐỨC KINH, Đức còn để lại cho đời nhiều cuốn kinh khác :
KINH CẢM ỨNG dạy về lẽ lành dữ trả vay,
KINH THANH TỊNH dạy về phép tu luyện vô vi, và
KINH HUỲNH ĐÌNH, bộ kinh cao hơn hết trong Đạo giáo.
-
Đoàn Thị Điểm hiệu Hồng Hà Nữ Sĩ, biệt hiệu Bang Tang, quê làng Hiếu Phạm (còn gọi Giai Phạm hay làng Giữa), huyện Văn Giai, tỉnh Bắc Ninh, nay là huyện Châu Giang, tỉnh Hải Hưng.
-
Năm 1947, hai mươi năm sau khi bắt đầu tạo dựng Thánh Địa Tây Ninh, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc một hôm vui miệng có kể câu chuyện sau:
"Việc khai phá rừng già không phải là việc dễ. Nhơn công phải đương đầu với muôn ngàn nỗi gian lao khổ ải. Khó chịu nhứt là bệnh sốt rét rừng, chói nước. Chư tín hữu người Việt ở lục tỉnh lên làm công quả không chịu nổi với trận giặc rét này. Công quả được ít ngày thì các vị ấy lần lượt xin về hết. Nếu tình thế ấy cứ tiếp tục thì không biết khi nào mới khai phá xong khu rừng.
Nhưng may thay ! Ơn Trên chuyển số người Tần Nhơn (Cao Miên) đến làm công quả có đến vài trăm người. Họ là những người lực lưỡng, chịu nắng, chịu mưa giỏi lại quen với lối sống trong rừng nên làm việc đắc lực lắm. Có điều này đặc biệt là trong số hai trăm nhơn công ấy lại có một người là cốt của một vị Thần...
-
Là hình thức với một số chữ nhứt định trong câu, có thể là mười hay mười ba, mười bốn, mười sáu, từ đó làm ra bài thơ tứ tuyệt thất ngôn (gồm 4 câu, mỗi câu có 7 chữ) đúng với niêm luật.
-
hưa tiến sĩ Adler,
Người ta luôn luôn viện dẫn kinh nghiệm, lý trí hoặc đức tin để hậu thuẫn cho những điều họ tin tưởng. Tôi hiểu lý trí và kinh nghiệm là gì, nhưng còn đức tin? Nó có phải là một bột phát cảm tính hoặc cơn dâng trào của tình cảm? Nó có đi ngược lại, hay có thể hòa giải được, với tất cả lý trí và kinh nghiệm? Các nhà tư tư tưởng lớn nói gì về đức tin?
P.L.F.
-
Sau 14 năm làm vua, theo truyền thống của nhà Trần, Nhân Tông nhường ngôi cho con là Anh Tông, rồi làm Thái thượng hoàng và đi tu, trở thành Tổ thứ nhất phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, một phái Thiền để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.
-
Ca dao Việt Nam có câu: “Tu đâu cho bằng
tu nhà; Thờ cha kính mẹ mới là chơn tu.”
Kinh Tứ Thập Nhị Chương có dạy: “…Cha mẹ
là vị Thần minh cao nhất trong các Thần minh.”
Kinh Đại Tập có đoạn chép: “ Gặp thời không
có Phật, khéo thờ cha mẹ tức là thờ Phật.”
Qua đó, chúng ta thấy rằng đối với con cái, cha
mẹ phải được tôn kính như một vị Thần minh
cao nhất, vì cha mẹ không chỉ tạo cho con mảnh
hình hài mà còn nuôi dưỡng con thành người.
Cha mẹ là chiếc lá chắn an toàn che chở suốt đời
cho con. Do vậy, đạo làm con là phải giữ tròn chữ
hiếu. Con người thực hành được Hiếu đạo, chính
là tạo được công đức rất lớn.
-
Quẻ Địa Thiên Thái gồm nội quái là Kiền và ngọai quái là Khôn, 2 quẻ đầu trong 64 quẻ Kinh Dịch. Thái có nghĩa to lớn, thông suốt, tốt đẹp, yên ổn
-Tượng quẻ cho thấy, hạ quái là Kiền, tức Dương khí của Trời hạ xuống; thượng quái là Khôn, là Đất, tức Âm khí bay lên, thể hiện sự gặp gỡ giao hòa giữa Trời Đất, hiểu rộng ra là hai khí Âm Dương giao tiếp nhau, tượng trưng sự hanh thông trong định luật thiên nhiên.
-
Tôn giáo cổ kim trên hoàn cầu luôn luôn tự nhận vai trò bảo tồn nhân loại tức là cứu thế vậy. Nhưng muốn làm được, làm đúng vai trò lịch sử của mình, tôn giáo phải vận chuyển, biến chuyển tương ứng với biến dịch của nhân sinh.
-
"Thật sự thì tự ngàn xưa, bên cõi trời Đông, bên bờ sông Lạc Việt, bên lịch sử Tiên Rồng đã có một nền tảng giá trị quan trọng đối với người mảnh mai bồ liễu. Thế thì hiện hữu các em đang trên đà tiến triển về sự hiệp nhất tinh thần, đoàn ngũ hóa nữ phái, ấy chỉ là sự hoàn phục lại cái căn bản sơ nguyên…"
-
Thiên Quan Tứ Phước là vị quan nhà Trời xuống trần gian chăm lo cho dân, ban bố mọi sự tốt lành cho sự sống ấm no hạnh phúc của dân chúng.
Vị quan nhà Trời ấy, theo truyền sử, đó là VUA NGHIÊU (2357-2255 trước CN). Sở dĩ Ngài được xưng tụng là "Thiên Quan Tứ Phước" là vì công đức của Ngài ban rải cho nhân dân rất đỗi to tát.
Truyền sử ca ngợi rằng: "Vua Nghiêu rất thương dân. Ngài nói: "Thấy một người dân đói, ta thấy như là ta đói; thấy một người dân rét, ta thấy như là ta rét; thấy một người dân bị áp bức, ta thấy như là ta bị áp bức". Vua Nghiêu cho đặt trống và bảng trước triều ca. Hễ ai muốn can gián, khuyến cáo nhà vua, thì hoặc đánh trống xin vào triều kiến, hoặc là viết lời gián nghị lên bảng.
Thuyết đạo tại Vĩnh Nguyên Tự (TTV. Thiện Chí)
File Audio do DIỆU HUYỀN & DIỆU NGUYÊN thực hiện
FILE AUDIO do DIỆU HUYỀN & DIỆU NGUYÊN THỰC HIỆN
AUDIO GIỚI THIỆU NỀN TÂM TRUYỀN ĐĐTKPĐ
Trích quyển TÌM HIỂU TÔN GIÁO CAO ĐÀI, CQPTGL tái bản 2013
Giáo sĩ Huệ Ý phát âm
TỔNG LUẬN VỀ CUỘC KHAI ĐẠO, LẬP ĐẠO CỦA TÔN GIÁO CAO ĐÀI
"Mùa Xuân: Mùa Khời Sắc" tác giả Thiện Chí
Như Quỳnh đọc
Thánh giáo Đức Đông Phương Lão Tổ
Cơ Quan PTGL, 01-th.Giêng Quý Hợi.
Diệu Nguyên đọc, Diệu Huyền ngâm thánh thi.
"Mẹ đến trần gianđể thưởng Xuân,
Cùng con lớn nhỏ được vui mừng;
Con mừng thưởng đặng mùa Xuân đạo,
Xuân đạo lập thành đức Thánh nhân."
ĐỨC DIÊU TRÌ KIM MẪU
Cảm khái khí Xuân, nhìn lại cuộc đời diễn biến, rồi tự an ủi trước những sắc Xuân nhen nhúm đó đây của tình người, liên hệ đến đức háo sanh của Tạo hóa đã an bài trong vạn vật, ta hãy đặt tên cho Xuân nầy là "Xuân thân hữu - tha thứ - hiến dâng."
THIỆN CHÍ
Nhạc và lời: BỬU LONG
Tìm đến nơi nào còn đầy bóng tối. Lặng bước chân đi dù đường xa dịu vợi. Về bóng đêm đen lữ khách mang trong hành trang, một niềm tin vô biên, một ánh sáng vô vàn. Tỏa sáng cánh chim bay về phương xa, người vẫn bươc đi dặn lòng không ngơi nghỉ.
Bạn với trăng sao, ơi gió, ơi mây, hãy cùng ta; bể khổ cho vơi đi, niềm vui đến cho muôn loài.
Đây ngọn đuốc Cao Đài,
rực soi bao đêm đen tối ám,
cho bóng tối từ nay rủ sạch màu ảm đạm,
lệ hờn căm thành dòng nước mắt ướt niềm vui.
Chân lý, tình thương, trong mắt sáng môi cười.
Viễn khách ơi, cho ta theo với.
Dẫu đường dài, dẫu chông gai,
người mãi bước mới vững vàng như những bước đã qua, để nối lại gần những ánh mắt nơi xa.
