Thống Kê Newsletter
Lần đầu đến với Nhịp Cầu Giáo Lý?

Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.

 
Có thể bạn chưa xem qua
  • Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (ĐĐTKPĐ) hay đạo Cao Đài khai minh vào đầu thế kỷ 20 tại Việt Nam đã mở ra một kỷ nguyên cứu độ mới và là một sự kiện vô cùng trọng đại và hy hữu trong lịch sử nhân loại từ khai thiên lập địa đến nay trên quả địa cầu nầy. ĐĐTKPĐ xuất hiện trong bối cảnh cuối thời Hạ nguơn Mạt kiếp, nhân loại ngày càng tiến bộ vượt bực về mặt trí năng nhưng ngày càng mờ nhạt về mặt tâm linh.


  • Không chỉ mang tính kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, Lễ hội Trung Thu Cao Đài còn thể hiện tinh thần nhân bản truyền thống của người VN luôn hướng về cội nguồn dân tộc được phát huy lên tầm vóc nhân loại với sự quay về một nguồn cội loài người được khởi sinh từ ngôi Thái Cực để làm nền tảng cho việc hướng đến cứu cánh Thế Đạo Đại Đồng, xây dựng một cõi thế gian an lạc hòa bình trong tình thương Vô Cực, trong thế nhân hòa với sự bình đẳng giữa con người với con người , không phân biệt giới tính, màu da, chủng tộc, trình độ tiến hóa…


  • “Ta là ánh sáng đã đến thế gian, để bất cứ ai tin Ta, người ấy sẽ không ở trong sự tối tăm.” (Ga 12,46)

    Một Ki-Tô hữu đã nhắc lại câu Thánh kinh trên để kể chuyện “Làm thế nào sống trong ánh sáng”:

    “Một hôm, vị đạo sĩ hỏi đệ tử: làm sao có thể biết được là ngày đã đến và đêm sắp kết thúc. Mỗi đệ tử trả lời một cách khác nhau nhưng không câu nào làm ông hài lòng. Sau cùng ông nói: “Khi chúng ta nhìn vào người bên cạnh, nếu chúng ta có thể nhìn người đó như người anh em của chúng ta, thì lúc đó là ngày đã đến chúng ta, nhưng bao lâu chúng ta chưa đạt được điều này thì chúng ta sống trong đêm tối.” (Góp nhặt)


  • Cách đây hơn 80 năm, khi Ðức Thượng Ðế hạ ngọn linh cơ lần đầu tiên tại Việt Nam, tức là đã đặt viên gạch đầu tiên cho Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ tại thế gian này. Từ đó tòa Cao Ðài được thiết lập đồng thời được ban trao sứ mạng Tam Kỳ Phổ Ðộ. Sứ mạng phổ độ nhân sanh kỳ thứ ba này được mệnh danh là sứ mạng Ðại Ðạo do bởi đặc ân của Thượng Ðế dành cho cơ cứu thế hạ nguơn tức là cơ cứu độ sau cùng trước khi kết thúc một đại chu kỳ vũ trụ.


  • 1. Tầm quan trọng của việc xây dựng thế hệ tiếp nối

    Sao gọi là thế hệ tiếp nối? Thế hệ có nghĩa là những người cùng một thời, cùng một giai đoạn, một lứa tuổi. Lớp trước sinh ra lớp sau, lớp sau sanh lớp sau kế tiếp. Tiếp nối liền theo sau của lớp trước, tạo thành sự liên tục từ đời này sang đời kia. Thế hệ tiếp nối mang tính liên tục, không gián đoạn, nếu không có thế hệ kế tiếp là bị đứt đoạn một thế hệ, không tiếp tục được sự nghiệp người trước. Người tiếp nối rất quan trọng vì có sự kế thừa, chọn lọc sáng tạo của người sau làm cho gia đình, tổ chức, quốc gia phát triển theo chiều hướng tiến bộ, cho nên việc đào tạo, xây dựng một ý thức hệ là vô cùng quan trọng. Xây dựng hàng ngũ tiếp nối ví như tre già phải có măng tươi tốt, một cánh rừng được thay thế bởi những cây đầy tược mầm non xanh tươi, tràn đầy nhựa sống. Nếu một gia đình không có con cháu kế thừa, gia đình sẽ buồn tẻ lúc tuổi già, thuộc vào nhánh tuyệt diệt trong gia phả của dòng họ.


  • Những năm gần đây, dư luận thế giới rất sôi nỗi về “Thuyết âm mưu”. Những “thế lực” vận dụng thuyết này thâm nhập vào mọi lĩnh vực từ kinh tế, xã hội, chính trị đến tôn giáo có chủ đích gây rối, xuyên tạc mọi định hướng xây dựng phát triển nền văn minh thế giới, đến cả quan điểm lối sống hoàn thiện của cá nhân và xã hội. Trước vấn nạn này, nhiều nhà nghiên cứu chân chính đang báo động: Cảnh giác với “Thuyết âm mưu”.


  • Xuân bất diệt / Hội Đồng Tiền Bối Đại Đạo

    Hội Đồng Tiền Bối Đại Đạo dạy tại NTTT vào ngày Mùng 1 tháng Giêng năm Canh Tuất 1970


  • Ấn tượng lịch sử của Lễ Hội Yến Diêu Trì đầu tiên

    Theo Sử Đạo, Đêm mồng 8 tháng 8 (25-9-1925), Đức AĂÂ giáng đàn, dạy ba vị Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang chuẩn bị thiết một lễ chay để cầu thỉnh Đức Diêu Trì Kim Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương giáng lâm. Đức Phạm Hộ Pháp cho biết : “Đức Chí Tôn ra lệnh, biểu làm một cái tiệc. Ngài dạy sắp đặt cái tiệc ấy để đãi Đấng vô hình. Đãi mười người (vị) Đức Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương” (1)
    Đêm hôm sau, mồng 9, ba vị cầu đến Cô Đoàn Ngọc Quế (Vương Thị Lễ), hỏi thêm cho được tận tường. Đàn hôm ấy quan trọng. Cô Đoàn Ngọc Quế lần đầu tiên cho chư vị biết rằng Cô chính là Thất Nương, Chị Hớn Liên Bạch là Bát Nương, cùng trong Cửu Vị Tiên Nương hộ giá Đức Diêu Trì Kim Mẫu. Nhưng, Thất Nương vẫn chưa tiết lộ về Đức AĂÂ. Tiếp đến, Thất Nương hướng dẫn đầy đủ nghi thức hành lễ tiếp Đức Từ Tôn Diêu Trì Kim Mẫu vào đêm Trung Thu, và yêu cầu chư vị cần : Trai giới liền ba ngày trước khi hầu lễ, và phải dùng Đại ngọc cơ để cầu Đức Mẹ Diêu Trì.


  • Làm người trên cõi thế là đã mặc nhiên thọ nhận sứ mạng làm người, thay Trời điều
    hành cai quản thế giới nhân sinh. Thánh giáo Cao Đài dạy rõ:

    “Làm sứ mạng vi nhân là giữ vai trò thực hành đạo Tài thành, bớt chỗ dư, bồi chỗ thiếu để làm cho cuộc sống nơi chốn hữu hình có đầy đủ tính chất chân thiện mỹ. Trí tuệ con người thừa hưởng từ khối óc siêu việt của Đức Thượng Đế là để khám phá, phát minh,, làm nên những công trình có ích, phục vụ cho cuộc sống hạnh phúc thế gian. Trời đã tạo sẵn nguồn nguyên liệu vô hạn từ hữu hình đến vô hình để con người hợp tác tìm kiếm, chế tác ra những sản phẩm vật chất cho chính con người thừa hưởng."


  • Ngài Cao Quỳnh Cư tự là Bội Ngọc, sinh năm Mậu Tý 1888 tại làng Hiệp Ninh, tổng Hàm Ninh Thượng, tỉnh Tây Ninh. Thân phụ Ngài là cụ ông Cao Quỳnh Tuân (1844-1896) từ trần ngày 4-11-Bính Thân. Thân mẫu của Ngài là cụ bà Trịnh Thị Huệ (1853-1946), liễu đạo ngày 25-9-Bính Tuất (1946). Trong gia đình, Ngài Cao Quỳnh Diêu là con thứ ba, Ngài Cao Quỳnh Cư thứ tư (người thứ hai mất sớm).


  • Đời sống của Chúa là yêu thương, là gần gũi với những trẻ thơ yếu đuối, những người nghèo hèn, những người tội lỗi, kể cả những con người ở tận cùng đáy của xã hội bị xã hội rẻ khinh như những cô gái lầu xanh, cũng đều được Ngài quan tâm giúp đỡ. Đặc biệt, trước “Lễ Vượt Qua”, tức là trước ngày Chúa tử nạn, Chúa đã hạ mình rửa chân cho các môn đệ của Ngài để nhắc nhở các môn đệ thực hiện đức khiêm tốn trong việc phục vụ tha nhân, tức là tôn trọng nhân vị, nhân phẩm và thương yêu lẫn nhau bằng cách “rửa chân cho nhau”.
    Ngài không chấp nhận việc sử dụng Đền Thánh là nhà của Cha làm nơi buôn bán, làm hang trộm cướp.


  • Điều thứ hai mươi của Tân Luật có qui định Chức sắc giữ Thánh thất mỗi ngày phải làm tiểu lễ bốn lần theo tứ thời là Tý (từ 11 giờ khuya đến 1 giờ sáng), Mẹo (từ 5 giờ đến 7 giờ sáng), Ngọ (từ 11giờ đến 12 giờ trưa), và Dậu (từ 5 giờ chiều đến 7 giờ tối). Tín đồ tại tư gia cũng cúng tứ thời theo giờ qui định nêu trên. Có sự khác biệt về giờ khởi sự cúng tứ thời giữa các thánh thất Cao Đài. Tòa thánh Tây Ninh qui định cúng đúng 12 giờ khuya, 6 giờ sáng, 12 giờ trưa và 6 giờ chiều; trong khi đó một số Hội thánh khác (trong đó có Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo) bắt đầu cúng tứ thời vào lúc 11 giờ khuya, 5 giờ sáng, 11 giờ trưa và 5 giờ chiều.














    Thập tam ma khuyên đừng lấp lửng,
    Gươm huệ cầm cho vững diệt trừ,
    Tịnh lòng hầu thấy chơn như,
    Thoát trần sẵn có thuyền từ rước đưa.

    Đức Quan Âm Bồ Tát, Liên Hoa Cửu Cung, 03-01 Ất Tỵ, 04-02-1965

    Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Nhịp Cầu Giáo Lý ngày một tốt hơn.


    Hãy gửi góp ý của bạn tại đây