Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
CƠ QUAN PHỔ THÔNG GIÁO LÝ ĐẠI ĐẠO
HUỆ NHẪN
12/2006
NGŨ CHI ĐẠI ĐẠO
(Năm chi Đạo họ Minh)
VÀ NHỮNG LIÊN HỆ VỚI ĐẠO CAO ĐÀI
-
Quẻ Thiên Phong Cấu được tạo bởi hai quẻ đơn:
- Ba vạch trên là quẻ Càn, Càn thượng hay ngoại Càn. Càn tượng Thiên. Thiên là Trời.
- Ba vạch dưới là quẻ Tốn, Tốn hạ hay nội Tốn. Tốn tượng Phong. Phong nghĩa là Gió.
Tên quẻ là Thiên Phong Cấu. Cấu là gặp nhau. Theo tượng quẻ Càn là Trời, Tốn là Gió. Càn trên Tốn dưới, có nghĩa là gió thổi dưới trời, gió thổi muôn phương, không có vật gì là không gặp. Cấu là một hào âm xuất hiện, một hào âm mới sinh dưới năm hào dương, bắt đầu cho chu kỳ âm trưởng dương tiêu.
-
1. * Ngọc Trì là ai?
Trong
việc hành công, miệng con người không gọi là khẩu mà gọi là Ngọc Trì
(ao ngọc). Trong miệng có hai suối nước là Ngọc Tuyền, xuất phát cam lồ
là Ngọc dịch, đây là Tiên dược của hành giả chỉ có khi thanh tịnh trong
thời thiền.
Cơ thể con người
có một cấu tạo đặc biệt, mắt của chúng ta cho được mà miệng không cho
được. Cho nên miệng là ta, ta là miệng. Ngọc Trì là chính chúng ta trên
đường tu, tuy hai mà một. Ngọc Trì lên đường tu là cách nói hình tượng
nhân cách của chủ đề CẨN NGÔN.
Đạo Trưởng Huệ
Lương có kể chuyện về thời Khai Đạo tại Thánh Thất Cầu Kho. Trong một
thời cúng, các Đấng Tiền Khai đang đọc kinh trên bửu điện thì dưới trù
phòng có tiếng cải cọ lớn tiếng. Tiền Bối Đòan Văn Bản bước ra và xuống
bếp khuyên giải "Xin chị để cho các anh lớn dâng lễ xong rồi có chuyện
gì thì nhờ phân xử". Bà tiếp tục hét "không chờ gì hết!", rồi tự nhiên
nín luôn.
Mỗi
ngày người ta thấy bà đánh một dấu phấn ở gốc cột. Đủ ba năm bà mua một
hủ tương đến gặp Ngài Đòan Văn Bản, chỉ vào hủ tương rồi chỉ ra hướng
Vũng Tàu. Ngài Đòan Văn Bản hỏi "chị muốn chúng tôi đưa chị ra Long Hải
gặp anh lớn Nguyễn Ngọc Tương phải không? Bà gật đầu.
Ngài
Đòan Văn Bản mua vé xe đò, đưa bà ra quận Đất Đỏ vào gặp Ngài Nguyễn
Ngọc Tương (lúc bấy giờ Ngài đang làm chủ quận Đất Đỏ). Sau khi nghe tự
sự Đức Nguyễn Ngọc Tương mời Ngài Đòan Văn Bản và đương sự cùng lên
cúng thời ngọ. Trước khi xã đàn Đức Nguyễn Ngọc Tương lấy nước âm
dương, cầu nguyện Ơn Trên và đưa cho bà uống, ngay tức thì bà nói ngay
"con xin cám ơn Ơn Trên tha tội, từ đây con xin cẩn ngôn, cẩn hạnh".
Chúng ta tu, miệng chúng ta phải tu theo, đó là Ngọc Trì lên đường tu.
-
Đừng quan niệm xây dựng Thánh Thất và kiếm được một người thủ tự để bốn thời quỳ hương cúng nước là đủ. Thượng Đế Chí Tôn không bảo làm việc quá nghèo nàn ít oi như vậy. “Vì như đã nói: Thánh Thất là trường giáo dân, ngoài chỗ thờ phượng tôn nghiêm đơn giản, nếu mỗi Thánh Đường dùng mọi trang trí lộng lẫy huy hoàng tôn nghiêm tráng lệ mà chung quanh vùng đó chưa có nhiều người vào đạo, hiểu đạo, thậm chí đến con em trong gia đình hướng đạo cũng không được sự dạy dỗ đạo lý, đó là trái với mục đích mở đạo của Thượng Đế Chí Tôn.(…)
-
Câu chuyện nói về việc muốn đạt được sự thay đổi thực sự như từ loài cá chép hóa thành rồng, từ nhà tranh vách lá thành… nhà lầu, từ khó khăn đến thành đạt sự nghiệp,… tất cả đều cần có sự thay đổi vượt bậc nào đó, thậm chí phải có hy sinh, đánh đổi, mất mát…
Khi không đủ khả năng để vượt qua ngưỡng giới hạn nào đó thì sự thay đổi về lượng thành chất chỉ là ngộ nhận. Không cứ ăn mặc bảnh bao, nước hoa thơm phức là thành đạt; cưỡi ô tô đắt tiền, tiền xài như nước là doanh nghiệp thành công…
-
"Hãy tự biết mình" là lời khuyên có ý nghĩa rất sâu xa từ ngàn xưa của các bậc minh triết.
Đức Lão Tử sinh khoảng thế kỷ thứ VI trước CN, từng viết trong Đạo Đức Kinh (CH.33): " Tri nhân giả trí; tự tri giả minh." (Biết người là trí (khôn); biết mình là sáng suốt), nhằm đề cao đức tính tự biết bản thân, thành thật nhận định trung thực phẩm chất của chính con người mình, nên được gọi là "minh".Còn cái biết về kẻ khác là cái tri thức của giác quan hay kinh nghiệm, không cần có bản lãnh sáng suốt vượt trên tư ngã..
Triết gia Hy lạp Socrates (399 – 470 TCN) cũng nổi tiếng với phương ngôn "Hãy tự biết mình" và tự khẳng định rằng : " Có một điều tôi biết chắc chắn là tôi không biết gì cả", ý nói cái biết thế giới hiện tượng không phải là cái biết đích thật, tức không phải chân lý.
-
Trong một năm, mùa nào cũng có ý nghĩa, có cái quý, cái đẹp do sự chuyển hóa của thiên nhiên. Nhưng riêng Xuân, Xuân đến lúc khởi đầu một năm, khiến nhân gian thường hết lời ca tụng, đón chào.
Sự ưu ái đối với Xuân có lẽ không chỉ vì thời điểm tân niên của nó, mà bầu trời bao la xanh ngắt, ánh nắng dịu dàng, hơi sương man mát, cây cỏ xinh tươi đã khoát lên Xuân chiếc áo không gian ấp ủ sức sống đang vươn lên của vạn vật và mầm khởi sắc trong tâm hồn thế nhân.
-
Question
I am also interested in hearing more about ways in which Caodaism is becoming "globalized"----linked to communities in other countries and part of an international conversation.
-
“Tam Kỳ Phổ Độ là một giai đoạn quan trọng trên lịch sử diễn tiến của nhân loại trong kỳ Hạ Nguơn. Đây là thời kỳ có một không hai trong quá trình tiến hóa tâm linh nhân loại.
Vì được diễm phúc hồng ân lớn lao duy nhất Thượng Đế giáng trần lập đạo cứu độ và tận độ nhân loại cũng đang thời kỳ tiến đến mạt kiếp, ác nghiệp chồng chất bao đời cũng đang đến hồi tác động với muôn vàn tai họa khủng khiếp.
Sự chênh lệch cách xa, một bên trí năng phát minh khoa học, và một bên đạo đức lương tri tạo nên tai họa khủng hoảng mờ mịt không lối thoát”.[1]
-
Một số người cho rằng nguồn gốc của các dân tộc Việt Nam bắt nguồn từ Trung Hoa, hoặc Tây Tạng, một số khác cho rằng nguồn gốc chính từ người Việt bản địa...
-
Bài nói chuyện tại Hội trường Thuyết minh giáo lý Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo
ngày Rằm tháng 10 Canh Dần (20-11-2010).
Song song với lịch sử nhân loại, các tôn giáo lần lượt ra đời trên khắp thế giới do tín ngưỡng tự nhiên và đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người. Đối diện cuộc sống thực tế của thế gian trong những thời kỳ đen tối do chiến họa, thiên tai, thù hận, gây ra thống khổ cho nhân sanh, các bậc Giáo chủ động lòng từ bi, lập nên các giáo thuyết, truyền bá đạo lý hầu phục hồi lương tâm con người và chấn chỉnh kỹ cương xã hội.
Trước bao nhiêu nguy cơ đe dọa đời sống, con người đón nhận các tôn giáo như cứu tinh và suy tôn các Giáo chủ là Đấng cứu thế. Đó là lẽ đương nhiên, cũng là cơ hội để các tôn giáo cứu đời.
Tuy nhiên, với mặc cảm tội lỗi và tự ti trước thần quyền, người đời trở nên thụ động, tiêu cực, mãi lo cầu xin cứu độ mà vô tình đánh mất bản vị cao quí của mình trong trời đất. Thế nên, người tín hữu bình thường sẽ lẩn quẩn trong cái đạo nhất thời, không ý thức cái Đạo vĩnh cửu là con đường tiến hóa miên viễn của chúng sanh.
-
VÔ thượng vô vi đạo thống truyền,
CỰC hành vạn tượng hóa huyền thiên.
TỪ tâm tận độ qui tam giới (13),
TÔN ý viên dung hiệp nhứt nguyên.
DIÊU điện Bàn Đào ân phổ chiếu,
TRÌ trung thánh thủy phước ban truyền.
KIM loan giá hạc thừa (14) loan giá,
MẪU tử tương phùng hữu hạnh duyên.
ALBUM:
HỘI THÁNH BẠCH Y TỔ CHỨC LỄ VÍA ĐỨC DIÊU TRÌ KIM MẪU
Vài hình ảnh về lễ vía đức Diêu Trì Kim Mẫu được Hội Thánh Bạch Y tổ chức tại Thánh Tòa Ngọc Kinh, Mong Thọ, Rạch Giá Kiên Giang.
ALBUM:
Bế giảng khóa Kinh Dich Căn Bản
Khóa Kinh Dịch căn bản chung của 3 Thánh Sở Minh Lý Đạo-HT.Truyền Giáo Cao Đài-Cơ Quan PTGL đã tổ chức Lễ Bế Giảng vào ngày 27 tháng 8 Canh Dần (04-10-2010) tại Tam Tông Miếu.
ALBUM:
Giáo dục ngày xưa
HỌC TRÒ VÀ TRƯỜNG HỌC NGÀY XƯA
Nguồn: http://nguyentl.free.fr/html/photo_education_vn.htm
ALBUM:
Tất Niên Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Mừng Xuân Canh Dần 2010
Hình ảnh Buổi lễ Tất Niên Gia Đình Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý mừng Xuân Canh Dần 2010 vào ngày 27-12 Kỷ Sửu (10-02-2010)
ALBUM:
Sinh hoạt Tôn Giáo Chào mừng Lễ Giáng Sinh 2009
Day la buoi hop mat than mat giua cac Dai dien cac ton giao tai TP HCM ngay 19. 12. 2009 do Toa Tong Giam Muc TP.HCM to chuc. Gom dai dien cac ton giao Bahai, Tin lanh, Hoa hao, CaoDai, Phat giao, Hoi giao va mot so nhan si. Hong Y Pham Minh Man Tong Giam Muc tai TP.HCM dich than tiep xuc cac TG ban va moi bua com than mat nhan dip Chao mung Le Giang Sinh 2009.
ALBUM:
Các Hội thánh giao lưu tại Hội thánh Minh Chơn Đạo 2008
Album họp mặt giao lưu các Hội thánh Cao Đài năm 2008 tại Hội thánh Minh Chơn Đạo
(các hình dâng lễ là Dâng lễ ngày đăng tiên của Ngài Chưởng Pháp Trần Đạo Quang - 17 tháng 2 Âm lịch)
