Thống Kê Newsletter
Lần đầu đến với Nhịp Cầu Giáo Lý?

Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.

 
Có thể bạn chưa xem qua
  • Bài nói chuyện tại Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo

    ngày mùng 1 tháng 3 năm Đinh Hợi (17-4-2007)

    Tam công là phương pháp tu hành của người môn đệ Cao Đài trong Tam kỳ Phổ độ bao gồm công quả, công trình và công phu. Một cách khái quát, công quả là hành thiện giúp đời nhằm tô bồi âm chất, công trình là luyện kỷ để hoàn thiện bản thân, còn công phu là tham thiền tịnh định hầu đạt đến giải thoát tại trần gian và siêu xuất thế gian.


  • Cầu siêu / Đạt Tường

    KINH CẦU SIÊU CỨU RỖI CỬU HUYỀN

    (Ảnh: Địa Tạng Vương Bồ Tát, cầm ngọc Như ý và cây tích trượng có 6 vòng tượng trưng sự cứu độ chúng sanh khỏi luân hồi lục đạo(*)  )


    Khởi đầu chúng ta hãy xem một trích đoạn xử án của Đức Phong Đô Đại Đế [1] tại Thánh Tịnh Ngọc Linh-Biên Hoà.

    "Tối ngày 25 tháng 9 năm Đinh Dậu 1957 ngoài trời tối đen, Ban Lễ đã lo chu đáo lễ phẩm nơi Thiên Bàn để qua 8 giờ 30 có lập đàn cơ. Trên trần của chánh điện có treo 2 ngọn đèn "măng xông" [2] thắp bằng dầu hôi và bơm hơi vào đầy đủ, dùng cho đến khuya rồi sẽ bơm lại.

    Khi đàn cơ bắt đầu, đồng tử xuất khẩu cho bài thi xưng danh là Ac Độc Quỉ Vương giáng trấn đàn, hộ giá Phong Đô Đại Đế. Từ khi cơ bắt đầu chuyển thì hai ngọn đèn "măng xông" đang xì hơi đều đều sáng chói, tự nhiên lu dần hoá ra một cảnh âm u, mờ mờ chỉ còn vừa đủ xem chữ để cho điển ký biên chép.


    [1] Theo kinh Minh Thánh Phong Đô Đại Đế là 1 trong những chức danh của Ngài Quan Vũ sau khi đã thoát khỏi luân hồi.

    [2] Tiếng Pháp là Manchon


  • Nghiên cứu về y thuật của Lãn Ông / Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ

     


    Quan niệm về Thận của Lãn Ông có thể nói được là hết sức độc đáo.
    Quan niệm này đã được trình bày cặn kẽ trong quyển Huyền Tẫn Phát Vi và trình bày sơ lược trong quyển Châu Ngọc Cách Ngôn của cụ.

    [ Hình bên: Thận và Quẻ Khảm ]


  • TRAU LÒNG SỬA TÁNH / Đức Di Lạc Thiên Tôn

    Lời báu nào cần vẽ rắn rồng,
    Bao nhiêu đã đủ gọi thành công.
    Tu vì đại nghĩa không vì phẩm,
    Luyện bởi quán thông chẳng bởi mong.
    Tiên Phật ấy người sanh tại thế,
    Thánh Thần cũng kẻ ở trần hồng.
    Y theo đạo pháp hành cho trọn,
    Đắc vị xem qua vạn sự không.


  • Hoán tỉnh Xuân hồn / HƯNG ĐẠO VƯƠNG

    HOÁN TỈNH XUÂN HỒN

    . . .Hỏi Xuân, Xuân mấy tuổi già ?

    Xuân đưa lại, lại rồi qua, xuân với ta là tri kỷ.


    Tứ hải vân bình thị anh hùng chí khí, hỏi thăm người Úc, Mỹ có Xuân chăng ?


    Trần Hưng Đạo Vương



  • Những nỗi niềm nhân sinh mang ý nghĩa tríết học xuất phát từ sự phản tỉnh của tâm thức khao khát tìm kiếm lẽ thật của đời người đã dẫn dắt con người đi đến cảm nhận sâu sắc về nỗi cô đơn cũng như những bi kịch tất yếu của kiếp người để chấp nhận nó và hóa giải nó một cách “tùy duyên” bằng cái tâm trong sáng và an định. Mặt khác, những nỗi niềm nhân sinh mang ý nghĩa xã hội xuất phát từ sự phản tỉnh của tấm lòng lo đời thương dân đã mang đến cho con người trong thơ vẻ đẹp của sự quên mình và tận tụy. Nét đẹp nhân văn ấy phải chăng đã góp phần không nhỏ khẳng định nhân cách lớn lao của con người thời Đông A cũng như dấu ấn khó phai của một thời đại thơ ca một đi không trở lại.


  • Quan niệm của Lãn Ông về Thận có rất nhiều điểm tương tự với những khái niệm mới mẽ nhất về Tuyến thượng thận (glandes surrénales; capsules surrénales; surrénales; adrenal glands) của Tây y.


  • . . . . . Đã Chính Trung thì làm thế nào cho ra Chính, cho phải Trung? Nên “dung ngôn” cần phải Tín, dung hành cần phải Cẩn. Tín và Cẩn là bước đầu của người quân tử xây dựng bản thân, để đủ chí thành bên trong, nuôi giữ cái tâm háo đức lạc thiện, lộ cái chí cao khiết ra bên ngoài, làm thước mực cho con người.


  • CHƠN TU / Chí Thật

    Trong một lần lâm đàn Thầy để lời gởi gắm đến chư môn đệ như sau:

    Bởi đời tạm xôn xao nhân sự,

    Biết Đạo rồi con giữ chơn tu,

    Mới mong thoát cảnh sương mù,

    Bao quanh con trẻ mờ lu linh hồn.


  • DẤU ẤN THỨ NHỨT: THƯỢNG ĐẾ LÂM PHÀM BẰNG LINH ĐIỂN KHAI ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
    DẤU ẤN THỨ HAI: TÔN CHỈ "TAM GIÁO QUY NGUYÊN, NGŨ CHI PHỤC NHỨT"
    DẤU ẤN THỨ BA: CỨU CÁNH "THIÊN NHƠN HIỆP NHỨT"


  • Yếu tố quyết định của hạnh là tâm.

    Sau khi nhập môn, chúng ta phải có ngôn ngữ, cử chỉ khác hơn hôm trước, Ơn Trên dạy phải "khác hơn người thế tục". Đó là tác phong đạo hạnh.

    Hạnh là sự thể hiện của tâm, đức bên trong hành giả qua ánh mắt, khuôn mặt, lời nói, hành động. Đức Cao Triều Tiền Bối dạy "Tâm đức là bát nhã thoàn đưa người qua bĩ ngạn. Tác phong đạo hạnh gây sự cảm mến đến nhơn tâm giác ngộ."[1]

    Đức Mẹ dạy:

    "Tiền nhân xưa chỉ đoan sửa tánh,

    Mà kết chung nhập thánh siêu phàm;

    Nay con đạo hạnh vững cầm,

    Dày công tu sửa sẽ làm Phật Tiên."[2]


    [1] CQPTGL, 11-02 nhuần Ất Sửu.

    [2] CQPTGL, 03-8 Mậu Ngọ.


  • Nhân sinh thành Phật dễ đâu
    Tu hành có khổ rồi sau mới thành.
    Hai câu thơ trong thi truyện về cuộc đời của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát vừa mở đầu cũng vừa mang ý nghĩa của một kết luận. Có gì đặc biệt trong cuộc đời của Đức Quán Thế Âm?
    Chúng ta biết về Đức Quán Thế Âm trong Nhất Kỳ và Nhị Kỳ Phổ Độ là nhờ lời Đức Thích Ca Mâu Ni dạy trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Thích Phước Nhơn, Pháp Hoa Yếu Giải, Phổ Quang, 1995..














    Cảnh khổ mà lòng vẫn phải vui,
    Có vui mới thấy đạo say mùi,
    Say mùi đạo hãy xa phàm tục,
    Cho lặng lòng trần đắc vị ngôi.

    Đức Chí Tôn, Thiên Lý Đàn, 30-10 Mậu Thân, 19-12-1968

    Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Nhịp Cầu Giáo Lý ngày một tốt hơn.


    Hãy gửi góp ý của bạn tại đây