Thống Kê Newsletter
Lần đầu đến với Nhịp Cầu Giáo Lý?

Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.

 
Có thể bạn chưa xem qua
  • Ta thường thấy câu “Tiên học lễ hậu học văn” được nêu ở các trường học như là một tôn chỉ giáo dục trong nhà trường. Khi đọc về Nho giáo, có thể thấy thầy Khổng Tử là người được Nho gia tôn là “Chí Thánh” hay “Vạn Thế Sư Biếu”, nghĩa là người thầy của mọi thế hệ.


  • Tái ngộ / Bát Nhã Thiền Sư & Quảng Đức Chơn Tiên

    Bát Nhã Thiền Sư & Quảng Đức Chơn Tiên dạy tại Minh Lý Thánh Hội vào ngày 7 tháng 6 Tân Dậu.


  • Hôm nay, tôi xin được phép dùng nội dung “Cảm ứng luận” để trình bày phần nói về cái nghĩa cảm ứng theo Đạo giáo. Sau đó, là sự dẩn dụ lý cảm ứng qua lời dạy của Thánh nhơn và về lý cảm ứng trong hai đường lành dữ : hễ cảm lành thì ứng lành, cảm dữ thì ứng dữ. Phần tiếp theo sẽ luận đến cảm ứng theo Thích giáo và Nho giáo và sau cùng là hiệp lý tam giáo để luận cảm ứng trong phương tu “ Phản bổn huờn nguyên”.
    Phần trình bày sẽ có các đề mục sau đây:
    1. Nghiên cứu về ý nghĩa cảm ứng của Đạo giáo;
    2. Dẩn dụ cảm ứng trong Thánh ngôn;
    3. Chỉ rõ lý cảm ứng trong hai đường lành dữ;
    4. Luận về cảm ứng theo Thích giáo và Nho giáo;
    5. Kết luận hiệp lý tam giáo.
    6. Cảm ứng trong phương tu “Phản bổn huờn nguyên”


  • Thiên cơ thế sự định phân rồi / Thánh giáo Đức Giáo Tông Vô Vi Đại Đạo

    Học tập Thánh giáo-Tháng Giêng Canh Dần 2010
    Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý
    Tuất thời, 29-12 Mậu Ngọ


  • Thời đại ngày nay, sự phân hóa tư tưởng loài người đã cùng cực; lòng tự tôn ngã mạn khiến cho người ta tự cho tư tưởng mình là chân lý tối thượng, làm cho thế nhân bị lầm lạc hoặc hoang mang không biết đâu là lý tưởng của kiếp người. Đức Thượng Đế bèn khai Tam Kỳ Phổ Độ để soi rọi Chân lý đích thực. Đó là Đạo. Đạo không phải là đạo này đạo nọ. Đạo là luật tiến hóa, là luật nhân quả, là sự sống tự nhiên của muôn loài.


  • QUỐC SƯ VẠN HẠNH / TT. Thích Quảng Tùng

    Quốc sư Vạn Hạnh và PG thời Lý đóng góp vào sự nghiệp hộ quốc an dân
    TT. Thích Quảng Tùng
    Phật giáo truyền vào Việt Nam theo các thuyền buôn từ Ấn Độ đến bằng gió mùa Tây Nam và về bằng gió mùa Đông Bắc. Theo sử sách ghi chép thì Trung tâm Phật giáo Việt Nam có từ đầu Công Nguyên tại Luy Lâu, Bắc Ninh.
    Với tinh thần khế lý, khế cơ và tùy duyên bất biến Phật giáo đã hội nhập vào văn hóa bản địa về thờ cúng tổ tiên của người Việt để thành Phật giáo Việt Nam, nổi bật là tín ngưỡng Tứ Pháp.
    Trong bối cảnh gần 1000 năm Bắc thuộc, Phật giáo Việt Nam sống trong lòng dân tộc, hòa mình cùng dân tộc. Nên khi đất nước bị nô dịch hà khắc thì Phật giáo cũng bị suy vong. Và cũng từ đó mà hun đúc nên các Thiền Sư vừa uyên thâm về nội điển vừa mang tư tưởng đấu tranh giành độc lập cho dân tộc như Thiền Sư Định Không, Cảm Thành và La Quý v.v…
    Vào cuối thế kỷ thứ bảy, các Ngài đã dùng sấm vĩ để xác định tương lai của Đất nước và Phật giáo. Để vận động Phật tử, tín đồ và nhân dân đoàn kết lại cùng các trí thức đương thời phù Vua Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành đánh tan quân đô hộ phương Bắc, giành độc lập cho Đất nước, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc và đạo pháp vào cuối thế kỷ thứ 10.


  • "Sự tín ngưỡng : Thầy rất mừng các con giờ nầy đến đây, trước vui cùng các con, Thầy ngẫm nghĩ lại các con nơi Trung Quang Thất nầy, một số đông con biết giữ Đạo thờ Thầy. Thầy khen cho, còn một số ít con còn mờ mịt chưa rõ chơn truyền của Đại Đạo. Sự tín ngưỡng các con quen tập theo lề lối cũ, rồi cứ truyền ngôn cho nhau, hoặc là kinh điển, Thầy bật cười... Vì là những sự quá cũ kỹ từ trên mấy thế kỷ. Như Thầy là Ngọc Đế hoặc là Ông Trời, bao trùm khắp thế gian này, như Thích Ca ở Ấn Độ, Lão Tử và Khổng Tử ở Trung Hoa, như Jésus ở Âu Tây, Thầy hỏi những bậc ấy lấy đâu làm căn cứ?
    ………..


  • Từ khi Đức Chí Tôn khai Đạo, Thầy đã nhiều lần nhắc nhở môn đồ rằng, Thầy mở Đạo kỳ này là thực hiện đại cuộc Qui nguyên.
    Qui nguyên có nghĩa là trở về nguồn gốc sau những thời kỳ vạn sự, vạn vật được sanh hóa cùng cực, lại đến giai đoạn quay về chỗ khởi sanh. Gốc chỉ có một, mà ngọn thì thành muôn. Vì thiên hình vạn trạng nên các loài đều khác nhau về hình thức. Đối với loài người, chẳng những khác nhau về màu da sắc tóc, mà về tinh thần và tư tưởng lại càng có nhiều dị biệt. Từ đó nảy sinh khái niệm “Bản thể - hiện tượng” là hai phạm trù đi đôi như Âm với Dương, nhưng có những mối tương quan mật thiết.
    Để giải thích lý tương quan ấy, các đạo gia nêu lên chủ thuyết “Đạo là Mẹ của muôn loài” (1), Nho gia nói “Thiên địa vạn vật đồng nhất thể”, Phật nói “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”. Các triết gia thì đề cập khái niệm “phổ quát đối ứng với bản sắc đa thù”. Về văn hóa, một triết gia viết: “Văn hóa nhân loại, trong bất kỳ trường hợp nào cũng không thể quy gọn ở mức là tổng số của những nền văn hóa riêng biệt. Bởi vậy, Goethe kêu gọi các nhà thơ, các nghệ sĩ và các nhà tư tưởng hãy ra khỏi cái khung dân tộc mà Herder và các đồ đệ của ông khuôn họ vào.” (2)


  • Bát Bửu Phật Đài / Thiện Chí St.

    NHÂN MÙA PHẬT ĐẢN, GIỚI THIỆU BÁT BỬU PHẬT ĐÀI

    Bát Bửu Phật Đài tại Cầu Xáng, khu Lê Minh Xuân, TP. HCM có một lịch sử rất đặc biệt, có mối liên hệ đặc biệt giữa đạo Cao Đài và Phật giáo, tượng trưng cho Cơ Qui nguyên của Đại Đạo.

    Do cơ duyên huyền diệu, cư sĩ Ngô Chí Bình (sau này nhập môn Cao Đài có thánh danh Thiện Bảo, nguyên Tổng Lý Minh Đạo thứ hai của Cơ Quan PTGL) được cơ bút Ơn Trên hướng dẫn thỉnh đại tượng Đức Thích Ca từ Chùa Xá Lợi (Quận 3 TP.HCM) về an vị tại Bát Bửu Phật Đài.


  • Lược sử Chiếu Minh / Phan Lương Minh

    Đầu năm Bính Dần 1926, Đức Ngô Minh Chiêu  trao thánh lịnh cho ngài Hồ Vinh Qui  đem đàn cơ xuống Cần Thơ mở Đạo. Ông Hồ Vinh Qui tự Trọng Quí, Thiên ân pháp danh (nay thường gọi là Thánh danh) :  Từ Huệ,  là cựu thông phán. Vừa đến Cần Thơ ông gặp ngay cụ Nguyễn Như Bích. Vốn  từng quen  cầu cơ từ thuở còn  ở Hà Tiên, nên cụ Bích sẵn  lòng tiếp ông Phán Quí lập đàn cơ tại nhà mình. Song vì thân phụ cụ Bích  là cụ Nguyễn Thần  Hiến  là một chí sĩ  của phong trào Đông Du  vào  những năm đầu thế kỷ,  nay lập đàn có nhiều người tới lui đông đảo, e rằng Pháp để ý, ông Phán Quí phải dời đàn cơ đến  nhà một gia đình mới quen qua các buổi càu đàn  - ông  bà Nguyễn Văn Huỳnh. Khi ngày lành tháng tốt, cứ năm ba người tụ nhau lại nơi các nhà Đàn, cầu Thần Tiên cho kinh kệ rồi dạy lần ra cho nhau.  Trong thời gian ngắn có hàng trăm người theo Đạo. Từ đó mở thêm đàn  tại gia Ông Nguyễn Thiện Niệm, ông Tám Tỵ. 


  • THU VỀ NHẮN BẠN NỮ LƯU / Chư Tiên Nương Thánh Nữ và Đức Vô Cực Từ Tôn

    Thánh Thất Tân Định
    Hợi thời rằm tháng 8 Bính Ngọ (29-9-1966)

    Thi:
    Thu về vui với cõi trần gian,
    Nữ giới chen chưn đến Đạo tràng,
    Giữa lúc nhơn sanh còn cộng nghiệp,
    Lo tu để sớm giảm tai nàn.
    KIM ĐỒNG NGỌC NỮ chào chư Thiên mạng, chào liệt vị lưỡng phái. Ngọc Nữ vâng lịnh báo đàn, có chư THÁNH NỮ và TIÊN NƯƠNG lai đàn hầu lễ. NGỌC NỮ chào chung chư liệt vị, xin xuất ngoại ứng hầu.
    (Tiếp điển:)


  • ĐÔI ĐIỀU TÂM ĐẮC KHI HỌC
    LỜI ĐỨC KHỔNG THÁNH VÀ CÁC ĐẤNG TIÊN NHO DẠY
    Bài nói chuyện tại Hội trường Thuyết minh giáo lý Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý ngày 01-9 canh Dần (08-10-2010)

    . . .Đức Khổng Tử sanh ngày Canh Tý tháng 11 (tháng Tý) năm 21 đời vua Linh Vương Nhà Chu năm Canh Tuất (năm 551 trước tây lịch), tại huyện Khúc Phụ, Làng Xương Bình, nước Lỗ, nay thuộc tỉnh Sơn Đông. Cha đặt tên Khổng Khâu, tên chữ là Trọng Ni.
    Cha là Ông Thúc Lương Hột. Mẹ là bà Nhan thị Trưng Tại.
    - Năm ba tuổi đã thích cúng tế.
    - Thành nhân làm Uy lại coi việc tính toán đo lường.
    - Kế làm Tư chức lại coi việc chăn nuôi trồng tỉa.
    - Năm 34 tuổi diện kiến với Đức Lão Tử. Sau đó đi chu du liệt quốc.
    - Năm 56 tuổi về nước Lỗ giữ chức Trung Đô Tể (giữ quốc thành của nước Lỗ), kế làm quan Tư Không rồi Đại Tư Khấu kiêm Tướng quan (Tể tướng). Ngài thi hành pháp công chém đại phu Thiếu Chính Mão.
    - Khi hội với nước Tề ở Giáp Cốc, tài ngoại giao của Ngài buộc Tề phải trả các đất đã chiếm của nước Lỗ. Tài cao đức trọng thì bị nhiều dèm pha, Ngài phải từ chức ra đi.
    Từ năm 68 tuổi, Ngài chuyên vào công tác văn hóa để lại sự nghiệp cho muôn đời là san định Kinh: Thi, Thư, Lễ; tự viết kinh Xuân Thu và viết Thập Dực cho Kinh Dịch.
    . . .














    Dưỡng dục quần sanh đức hiếu sanh,
    Khai Minh Đại Đạo, Đạo tài thành,
    Tam Kỳ tận độ an thiên hạ,
    Thánh đức âu ca hưởng phước lành.

    Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, CQPTGL, Rằm tháng 10 Quý Sửu

    Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Nhịp Cầu Giáo Lý ngày một tốt hơn.


    Hãy gửi góp ý của bạn tại đây