Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Ấn tượng lịch sử của Lễ Hội Yến Diêu Trì đầu tiên
Theo Sử Đạo, Đêm mồng 8 tháng 8 (25-9-1925), Đức AĂÂ giáng đàn, dạy ba vị Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang chuẩn bị thiết một lễ chay để cầu thỉnh Đức Diêu Trì Kim Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương giáng lâm. Đức Phạm Hộ Pháp cho biết : “Đức Chí Tôn ra lệnh, biểu làm một cái tiệc. Ngài dạy sắp đặt cái tiệc ấy để đãi Đấng vô hình. Đãi mười người (vị) Đức Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương” (1)
Đêm hôm sau, mồng 9, ba vị cầu đến Cô Đoàn Ngọc Quế (Vương Thị Lễ), hỏi thêm cho được tận tường. Đàn hôm ấy quan trọng. Cô Đoàn Ngọc Quế lần đầu tiên cho chư vị biết rằng Cô chính là Thất Nương, Chị Hớn Liên Bạch là Bát Nương, cùng trong Cửu Vị Tiên Nương hộ giá Đức Diêu Trì Kim Mẫu. Nhưng, Thất Nương vẫn chưa tiết lộ về Đức AĂÂ. Tiếp đến, Thất Nương hướng dẫn đầy đủ nghi thức hành lễ tiếp Đức Từ Tôn Diêu Trì Kim Mẫu vào đêm Trung Thu, và yêu cầu chư vị cần : Trai giới liền ba ngày trước khi hầu lễ, và phải dùng Đại ngọc cơ để cầu Đức Mẹ Diêu Trì.
-
Đất nước Việt Nam với dòng giống Rồng Tiên đã sản sinh ra biết bao anh hùng dân tộc hằng lưu lại những sự nghiệp vật chất và tinh thần rất hào hùng, vẻ vang cho hậu thế noi theo cùng thừa hưởng. Là con dân nước Việt, cùng với niềm tự hào trước những thành quả to lớn của ông cha để lại, chúng ta có bổn phận phải nuôi dưỡng , bảo vệ, giữ gìn tinh thần truyền thống cao đẹp đó.
Trong suốt chiều dài lịch sử, trải qua các triều đại Đinh Lê Lý Trần .v.v… có thể nói triều đại nhà Lý đã để lại những dấu ấn lịch sử sâu đậm, mở ra một thời kỳ vẻ vang cho dân tộc Việt, là một bước tiến mới rất quan trọng của tiến trình dựng nước và giữ nước, với những quyết định đúng đắn của các vị minh quân, cũng như những sự giúp đỡ đắc lực của những vị trung thần trung quân ái quốc và xứng đáng với mỹ từ “Việt Nam văn hiến ngàn năm”.
-
Trước khi đi vào vấn đề, cũng cần phân tích kỹ ý nghĩa hai chữ "hội nhập". Từ ngữ này khá mới, và gần đây được nhắc đến thường xuyên do những bước đột phá về kinh tế của Việt Nam trước xu thế kinh tế toàn cầu.
-
K….Khá nghe dạy : Rừng thiền nhặt thúc tiếng chuông trưa Phước gặp về Ta , buổi đã vừa . Nẽo hạnh làu soi gương Nguyệt thắm . Sân ngô rạng vẽ cánh thu đưa . Mai tàn cúc xủ đời thay đổi. Dữ tận hiền thăng khách lọc - lừa. Mùi đạo gắng giồi lòng thiện niệm. Duyên may tìm lại phẩm ngôi xưa .
o0o _ Màn trời che lấp dấu trần , Đạo Thánh dắt dìu bước tục.Cuối Hạ Nguơn biết bao đời thay đổi
-
“Khi các con đã thật lòng bác ái, các con không còn thấy người sang kẻ hèn, người dại kẻ khôn, người uy quyền kẻ yếu đuối, người thân kẻ sơ. Đã không chia cách như vậy, lòng các con là một cõi bồ đề, một cõi niết bàn, một Cung Diêu Trì và chính con sẽ ở trong Thượng Đế.” ./.
-
Câu 6 : Hầu khi xuất vía, non bồng lần lên.
Câu 7 : Tìm ra lý chánh, luật thiên .
Câu 8 : Không làm tội lỗi, tham thiền phát minh.
Câu 9 - 10 : Ngồi yên cửu khiếu trong mình,
Mở mang thấu đáo, thông linh cơ mầu.
GIẢI NGHĨA KINH THAM THIỀN
VÀ KỆ HỒI HƯỚNG
-
Hôm nay, theo vận số của một năm là thời điểm Hạ nguơn. Thời điểm này được chọn làm ngày Khai Minh Đại Đạo. Điều đó có ý nghĩa rằng Đại Đạo được khai minh trong giai đoạn chót của đại chu kỳ vũ trụ để ban cho nhân loại một đặc ân cuối cùng.
Thật ra Đại Đạo vẫn có, hằng có, đã có từ vô thỉ và còn đến vô chung. Công cuộc khai minh là cơ hội mà cái Đức của Đạo được bày ra sáng tỏ nhất, mở ra cho người giác ngộ một dịp may tham dự vào cơ hành tàng của Đạo để tiến hóa nhanh chóng đồng thời chuyển hóa nhanh chóng nhân loại trở về Đạo lý.
- Người nhận được ánh sáng Chơn lý của Đạo để hành đạo tự thân gọi là người Thiên ân.
- Kẻ phát tâm đem Chơn lý ấy gây ý thức sống đạo cho mọi người gọi là có sứ mạng.
Thiên ân và sứ mạng luân động kết thành một đường Đạo tâm sáng ngời càng ngày càng tỏa rộng giữa thế gian khiến cho Đại Đạo được khai minh để dòng Thiên ân tuôn chảy vào chính nơi được khai minh ấy.
Do những cảm nhận ấy, trong khung cảnh thiêng liêng hôm nay, chúng ta hãy cùng thấm nhập dòng Thiên ân vi diệu, để ngày mai lại lên đường tiếp nối đuốc khai minh.
-
Một năm có bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông. Có 8 tiết : Lập Xuân, Xuân Phân, Lập Hè, Hè Chí, Lập Thu, Thu Phân, Lập Đông, Đông Chí. Năm nay mùa tu Đông Chí lại đến, chúng ta dừng chơn lại đôi khắc để xét nghiệm, dự trù công việc mình sẽ làm gì hữu ích cho thân tâm trong mùa tu Đông Chí nầy.
-
Con người hôm nay và con người hôm qua – con người của ngàn xưa – dường như không khác nhau là mấy. Cởi bỏ lớp vỏ bọc văn minh vật chất, con người ấy, dẫu hình hài có thanh tú mỹ lệ hơn con người ban sơ, nhưng nỗi khắc khoải vẫn còn nguyên vẹn. Vẫn còn đấy niềm băn khoăn muôn thuở: con người, mi là ai? Một nhà thơ nào đó đã từng òa khóc cho thân phận con người trong cảnh thương hải tang điền: «Ta là ai giữa mùa thay đổi ấy?» Hoặc như thi nhân Trần Tử Ngang (651-702) đời Đường đã chua xót ngậm ngùi:
-
Ở nước ta, Nho giáo đã có lịch sử rất lâu đời. Từ khi nước ta bị xâm lược và sáp nhập vào Trung Quốc, từ đời Hán (206 trước Công nguyên đến 220 sau Công nguyên), Nho giáo đã được du nhập vào Việt Nam. Sĩ Nhiếp (thế kỷ thứ II sau công nguyên) đã được coi là An Nam học tổ, người mở đầu cho Nho học ở nước ta. Trong thời kỳ tự chủ, từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, Nho giáo cùng với Phật giáo và Đạo giáo có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần nước ta. Cuối thế kỷ XIV, Nho giáo giành được ưu thế so với Phật giáo, chi phối đời sống tinh thần nước ta.
-
Chân truyền giáo huấn về con đường Tu cứu độ cửu huyền thất tổ được tóm lược qua lời của Đức Quán Thế Âm: "Phương độ rỗi chắc chắn hơn hết là người sanh tiền phải luôn luôn thành tâm cầu nguyện và giữ vững đức tin, bồi bổ thêm công đức. (…) Chưthiện tín khá lưu tâm mà giữ tròn âm đức nhe."
-
Tại Thảo Lư: Thánh Đức Tổ Đình. Cao Đài Đại Đạo Chiếu Minh Tam Thanh Vô vi
Ngày 15/10 Mậu Tý, nhằm ngày 11/11/2008 Ban Quản Lý Thánh Đức Tổ Đình cử hành lễ an vị Pho Tượng Đức Thầy Trở lại thời gian từ ngày 13/3 năm 1932 Đức Tôn Sư Ngô Minh Chiêu qui liễu đến nay tròn 77 năm.
Cũng tại nơi đây Bổn đạo Cao Đài, cử hành tang lễ kim thân đức thầy nhập tháp tại Chiếu Minh Nghĩa Địa. Kể từ đó đến nay 76 năm chưa có đúc tượng chân dung để an vị.
- Vì lúc xưa nơi Thảo Lư chỉ làm bằng cây lợp lá đơn sơ để Đức Thầy tạm nghĩ dưỡng bệnh, lúc bấy giờ Đức thầy dạy dùng viết ghi trên vãi để chép những bài thánh giáo giữ y qui cũ khai Đạo kỳ ba do Đức Thầy truyền dạy trong thế kỹ 20.
- Chính nơi Thảo Lư Đức Thầy đã ra đi về Tân An và Qui tiên sau khi qua phà Cần Thơ và giữa dòng sông Cửu Long phà Mỹ Thuận. Qua thiên lệnh của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế:
"Giờ này thầy điểm thâm công
Ngày sau, con sẽ cởi rồng về nguyên "
