Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Những người tu theo Chánh Pháp Đại Đạo trong buổi Tam Kỳ cần ý thức sâu xa, đừng thiên đừng chấp một chỗ một bên, mà lòng trở thành chướng ngại hạn hẹp, nhỏ nhen, thiếu lượng từ bi thì sao thấy được “tánh” mà thành được Đạo.
-
"Ðắc nhứt tâm rồi thế mới yên,
Muốn tâm đắc nhứt phải tham thiền;
Tham thiền tâm sẽ hoà muôn vật,
Hoà ấy làm nên đạo phối Thiên"
-
Trong Tờ khai Đạo ghi ngày 07-10-1926 (nguyên văn bằng tiếng Pháp), được tiền bối Lê Văn Trung gửi cho Quyền thống đốc Nam kỳ Le Fol, đã không thấy nhắc tới "Bouddhisme rénové" hay "Phật giáo chấn hưng". Trong văn bản bấy giờ có nói tới Cao Đài, nhưng chỉ giải thích Cao Đài là Đại đạo.
-
Đức Lý Đại Tiên Trưởng Giáo Tông Vô Vi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ dạy rằng sứ mạng của người hướng đạo "là tự độ và độ tha. Tự hoàn thiện mình và hoàn thiện tha nhân trên 2 phương diện:
1. Phổ thông phổ truyền giáo lý về mặt ngoaị giáo công truyền.
2. Đạt Đạo giải thoát bằng phương pháp Tánh Mạng song tu về mặt nội giáo tâm truyền, đó là cứu cánh."(22-02 Bính Dần)
-
Nếu có dịp chứng kiến đại lễ Khai Minh Đại Đạo vào năm Bính Dần 1926, có lẽ đại đa số nhân loại đều cho rằng đó là sự ra đời của một tôn giáo. Không ít tín đồ Cao Đài cũng nghĩ rằng đó là lễ ra mắt tôn giáo Cao Đài trước nhân sanh.
Nhưng tại sao, trong toàn Đạo – từ các đấng Thiêng Liêng cho đến con người – ngày lễ này lại được gọi là “Khai Minh Đại Đạo” (hay ngắn gọn hơn, “Khai Đạo”), chứ không gọi là “Khai Minh Cao Đài”?
Đức Vạn Hạnh Thiền Sư đã dạy:
“Người vẫn tưởng Cao Đài - tôn giáo,
Nào hay đâu Đại Đạo hoằng dương.” (1)
-
Dòng sông uốn khúc qua bao thác ghềnh, đón nhận mọi nguồn nước đục trong, nhưng không bao giờ dừng lại. Lúc lớn, lúc ròng, sông cứ nhịp nhàng nuôi dưỡng cỏ cây người vật xinh tươi. Thời gian chứa đựng vô và n biến đổi của của cuộc
Thời gian là dòng sông vĩnh cửu, nhưng nếu không có bốn mùa thì lấy chi để đánh dấu thời gian. Mỗi mùa có những sắc thái riêng, mà Xuân lại được ca ngợi đón chào nồng nhiệt nhất, thì Xuân càng vinh hạnh biết bao! Nên Xuân đến, Xuân đi, rồi Xuân lại về!
đời, hưng phế thạnh suy, buồn vui sướng khổ. . . Thế nên có Xuân, vẫn có Hạ Thu Đông nối tiếp, thì đời người vẫn có thăng trầm là lẽ tự nhiên. Mừng Xuân không thể giữ Xuân mãi, hãy đón Hè về cho sen nở, Thu sang cho cúc vàng tươi, cũng không buồn lo đào mai trơ cành vào Đông giá rét. Vì cuối Đông, Xuân sẽ lại về.
-
. . . . . Đã Chính Trung thì làm thế nào cho ra Chính, cho phải Trung? Nên “dung ngôn” cần phải Tín, dung hành cần phải Cẩn. Tín và Cẩn là bước đầu của người quân tử xây dựng bản thân, để đủ chí thành bên trong, nuôi giữ cái tâm háo đức lạc thiện, lộ cái chí cao khiết ra bên ngoài, làm thước mực cho con người.
-
Cuộc sống trên độ cao tới 4.900 m buộc người Tây Tạng phải tiến hóa rất nhanh để tồn tại.
Tại sao người Tây Tạng sống được trên mái nhà thế giới?
-
Biết tiềm thức còn chôn đủ nghiệp,
Khi móng lên mau kịp ngăn phòng;
Ma ngoài hiệp với ma trong,
Ngơ đi chớ tưởng lặng lòng quên thân.
-
I. NGUYÊN LÝ NHẤT NGUYÊN CỦA VŨ TRỤ
A. CƠ CHẾ BIẾN SANH VŨ TRỤ.
B. QUI LUẬT TIẾN HÓA TÂM LINH
-
Tân Ước /
Tân Ước, còn gọi là Tân Ước Hi văn hoặc Kinh thánh Hi văn, là một phần của Kinh Thánh Cơ Đốc giáo, được viết sau khi Chúa Giê-xu sinh ra. Được dịch từ tiếng Latinh Novum Testamentum, nguyên ngữ Hi văn Kainē Diathēkē (Καινή Διαθήκη), nghĩa là "Giao ước mới". Thuật ngữ "Tân Ước" lúc đầu được tín hữu Cơ Đốc dùng để miêu tả mối tương giao giữa họ và Thiên Chúa, về sau được dùng để chỉ một tuyển tập gồm 27 sách.
-
VỀ MIỀN SÔNG HẬU
Thuyền rời bến vượt dòng đêm lạnh,
Cà Mau ơi, sông lạnh đìu hiu!
Nhớ sao…chim Quốc kêu chiều,
Ven trời quê mẹ chín chiều ruột đau…
