Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Vị tiếng Chơn Nhơn thỉnh xuống trần,
Đem lời Thánh huấn độ lê dân,
Tu hành sớm bỏ điều gian ác,
Học Đạo chiều buông hết nợ nần.
Bài bạc rượu trà khuyên dứt hẳn,
Thiện lương nhơn nghĩa rán theo lần,
Nhược bằng chẳng nhớ lời Ta dạy,
Phó lịnh trừng răn tam vị Thần.
-
Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, Tuất thời, Rằm tháng 9 Giáp
Dần (29.10.1974)
KIM QUANG ĐỒNG TỬ, Tiểu Thánh
chào chư Thiên mạng chào chư liệt
vị nam nữ.Tiểu thánh đến báo đàn, có Đức Đông Phương Chưởng Quản
giáng lâm. Chư liệt vị và chư Thiên
mạng thành tâm nghinh tiếp. Tiểu
Tánh xin xuất ngoại ứng hầu. Lui./.
Tiếp
điển
:
ĐÔNG PHƯƠNG CHƯỞNG QUẢN, chào chư
hiền đệ, hiền muội. Hôm nay Bần Đạo đến để thâu nhận hàng thiện
duyên vào đạo pháp. Chư hiền đệ hiền muội an tọa.
Chư
hiền đệ hiền muội ! Thời kỳ tam nguơn chuyển thế Đức Thượng
Đế tá danh CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ
TÁT MA HA TÁT trong Tam Kỳ Phổ Độ,
đem vạn loại tiến hóa trên đường Đại Đạo, để tái tạo thượng ngươn.
Điều nguơn này tất cả người tín đồ Cao Đài như chư
hiền đệ hiền muội đều hiểu rõ.
-
Cựu Ước /
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cựu Ước, còn gọi là Kinh thánh Do Thái, là phần đầu của toàn bộ Kinh thánh của Cơ Đốc giáo. Cựu Ước được sắp xếp thành các phần khác nhau như luật pháp, lịch sử, thi ca (hay các sách về sự khôn ngoan) và tiên tri. Tất cả các sách này đều được viết trước thời điểm sinh ra của Chúa Giê-xu người Nazareth, người mà cuộc đời và tư tưởng là trọng tâm của Tân Ước.
Cần lưu ý rằng Do Thái giáo dùng từ Tanakh như là một thay thế cho thuật ngữ Cựu Ước, vì họ không chấp nhận Tân Ước là một phần của Kinh thánh.
-
Tại sao Hội Thánh lại dám mạo hiểm xưng mình là Thánh Thể của Đức Chí Tôn là Đại Từ Phụ, là Thầy của chúng ta ?
Thì Chí Tôn đã nói: Người đến giữ lương sanh đặng người có quyền năng hữu hình mà giáo hóa và cứu vớt quần sanh.
Ấy vậy Hội Thánh đã đặng mạng lịnh Thiêng Liêng của Người và làm cha làm Thầy cả con của Người. Cái quyền hành ấy cao trọng biết dường nào, chúng ta không cần đề luận. Muốn nắm quyền hành ấy nơi tay, tức phải tỏ ra mình là phẩm giá lương sanh mới đáng. Dầu toàn Hội Thánh hay một phần tử của Hội Thánh, tức là một vị Chức Sắc Thiên Phong cho đồng thể cùng Thần, Thánh, Tiên, Phật mới đáng là hình thể của Người. Nếu để phàm phong thì quả nhiên nhơn loại đã lăng mạ danh thể của Người, ấy là tội Thiên Điều chẳng dể dung thứ. Phẩm Thiên Phong chánh vị còn giữ phàm tánh thì lại lăng mạ danh thể của Người hơn thập bội.
-
" Nền Đạo lập nên là nhờ có lòng đạo đức và tánh khiêm cung của mỗi môn đệ của Đức Từ Bi. Nếu đã vào nẻo đạo mà còn bôn chôn tranh lướt theo thói thường tình thì dầu có bao nhiêu đạo hữu, bao nhiêu công quả đi nữa, mối Đạo chẳng qua là một trường ngôn luận của thế gian đó thôi, chớ công quả đạo đức mong chi thấy sự kết quả xứng đáng đặng?” (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Quyển I, 29.5.27)
-
Nhìn lại lịch sử các tôn giáo trên thế giới hơn hai ngàn năm qua, mọi người đều nhận thức rằng đã có nhiều tôn giáo do các bậc Giáo chủ, Thánh nhân sáng lập để giác ngộ nhân sanh ngõ hầu hoàn thiện con người và xã hội.
Đến ngày nay các tôn giáo lớn vẫn đang phổ truyền kinh điển và pháp môn tu luyện cho hàng trăm triệu tín đồ. Tuy nhiên, trên thế giới chiến tranh vẫn còn tiếp diễn, bạo lực và tàn sát diệt chủng vẫn còn, nghèo đói , bệnh tật vẫn tràn lan ở nhiều nước trong khi văn minh khoa học đã đạt đến đỉnh cao thời hiện đại. Người ta tự hỏi vai trò của tôn giáo liệu có thể đem lại hòa bình, an lạc, tiến bộ cho nhân loại?
-
Cuộc sống trên độ cao tới 4.900 m buộc người Tây Tạng phải tiến hóa rất nhanh để tồn tại.
Tại sao người Tây Tạng sống được trên mái nhà thế giới?
-
NHO TÔNG VÀ SỨ MẠNG ĐẠI ĐẠO
Đức Chí Tôn khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ với tôn chỉ “Tam giáo qui nguyên, ngũ chi phục nhất” và mục đích “Thế đạo đại đồng, thiên đạo giải thoát.”
Trong tôn chỉ Đại Đạo, Tam giáo có Nho giáo là đạo trị thế, ứng với thế đạo đại đồng trong mục đích Đại Đạo.
Như thế, Nho tông có vai trò rất quan trọng trong sứ mạng Đai ĐạoTam Kỳ Phổ Độ. Điều đó còn được ghi nhận qua sự tôn xưng Đức Khổng Thánh Tiên Sư là “Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn” và đường lối “Nho tông chuyển thế” trong Tam Kỳ Phổ Độ (TKPĐ).
Vậy, để nhận định đúng mức công năng “chuyển thế” của Nho tông, chúng ta có thể lần lượt tìm hiểu tông chỉ của đạo Nho qua các kinh điển của thánh nhân.
Nhằm qui chiếu tông chỉ ấy vào sứ mạng Đại Đạo, ta sẽ khảo sát theo ba góc độ:
_Tu thân
_Thế đạo
_Thiên đạo
-
Ca dao Việt Nam có câu: “Tu đâu cho bằng
tu nhà; Thờ cha kính mẹ mới là chơn tu.”
Kinh Tứ Thập Nhị Chương có dạy: “…Cha mẹ
là vị Thần minh cao nhất trong các Thần minh.”
Kinh Đại Tập có đoạn chép: “ Gặp thời không
có Phật, khéo thờ cha mẹ tức là thờ Phật.”
Qua đó, chúng ta thấy rằng đối với con cái, cha
mẹ phải được tôn kính như một vị Thần minh
cao nhất, vì cha mẹ không chỉ tạo cho con mảnh
hình hài mà còn nuôi dưỡng con thành người.
Cha mẹ là chiếc lá chắn an toàn che chở suốt đời
cho con. Do vậy, đạo làm con là phải giữ tròn chữ
hiếu. Con người thực hành được Hiếu đạo, chính
là tạo được công đức rất lớn.
-
THI
QUAN hải non Nam dạo cảnh nhàn,
ÂM thinh hạ giới chợt kêu vang,
Bồ đoàn tọa thị nhìn nơi đấy,
TÁT cảm từ bi xuống thế gian.
Bần Đạo mừng chư Thiên mạng Lưỡng Đài, mừng chư hiền đệ muội hiện diện.
Được sự chỉ thị của Ngài Phật Tổ, một vị trong Tam Giáo, Bần Đạo hân hạnh được lại một lần nữa cùng chư hiền tỏ bày đạo lý. Nhân dịp ngày lễ Đản Sinh, Bần Đạo miễn phép, chư hiền đệ muội đồng an tọa tịnh thần.
-
Ta không bảo các em chinh phục thiên hạ, mà bảo các em tự thắng các em và phục vụ cho thiên hạ. Hãy lấy niềm vui khi làm cho kẻ khác. Hãy lấy làm hãnh diện khi xả thân cho tha nhân.”(Ngọc Minh Đài, 29–12 Bính Ngọ (08–02–1967).)
-
Người Chăm theo hai tôn giáo chính là Bà la môn và Hồi giáo. Trong Hồi giáo lại chia ra Hồi giáo cũ (Bà ni) và Hồi giáo mới (Ixlam). Hai tôn giáo Bà la môn và Hồi giáo tồn tại độc lập, và trải qua quá trình lịch sử, đã hòa nhập với tín ngưỡng bản địa, tạo nên một thứ tôn giáo địa phương. Ngoài ra còn một số ít người Chăm còn theo đạo Công giáo và Tin Lành. Trong quá khứ Phật giáo từng đóng một vị trí khá quan trọng trong đời sống tinh thần của người Chăm, tồn tại và phát triển song song với đạo Bà la môn từ đầu thế kỷ trước công nguyên đến thế kỷ thứ IX
