Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Huờn Cung Đàn ,Tý thời 14 rạng Rằm tháng 7 năm Tân Sửu (24.08.61)
( Vía Trung Nguơn )
U hiển huyền vi Tạo Hóa cơ ,
MINH Vương phóng xá tội phong đô ;
GIÁO truyền mặc mặc quy Chơn Đạo ,
CHỦ hướng tư tư quả túy khô .
ĐỊA hậu Thiên cao năng phúc tải ,
TẠNG thân tướng phủ tự duyên vô,
BỒ đoàn hảo kiết thiên liên thảo ,
TÁT vị tầm thinh đắc vạn đồ .
TA chào mừng chư Thiên sắc, chư liệt vị, chào chư Thiện tín . Ta miễn lễ chư Thiên sắc cùng thiện tín an tọa .
-
Đức Tin /
Người ta thường gọi đức tin là giác quan thứ sáu. Nhờ giác quan ta có thể nghe thấy, nếm, ngửi và biết được. Chúng ta có năm giác quan là thính giác, thị giác, khứu giác, vị giác và xúc giác. Nhờ tai để nghe, nhờ mắt để thấy, nhờ mũi để ngửi, nhờ lưỡi để nếm, nhờ tay để rờ nhưng nhờ đức tin là gián quan thứ sáu, chúng ta nghe được, thấy được, rờ được, nếm được và ngửi được những gì mà các giác quan không làm được. Như vậy, đức tin là một giác quan cáo quý hơn hết.
-
Ý NGHĨA NGÀY 13 tháng 3
Hạ tuần tháng 2 Quý Sửu – 1973, giải thích lý do vì sao Ơn Trên đốc thúc việc xây cất phải cố gắng làm để kịp khánh thành ngôi "Vĩnh Nguyên Tự tái thiết" tại tỉnh Long An vào ngày 13 tháng 3 Quý Sửu, Đức Đông Phương Chưởng Quản đã dạy:
"Bần Đạo giải thích về đạo số cho chư hiền được rõ:
Ngày 13 tháng 3, Tiền Khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Chí Tôn đã chọn ngày ấy phong Thánh cho tam vị Đại Thiên Phong Chức Sắc đầu tiên. Đó Là Thượng Trung Nhựt Lê Văn Trung, Ngọc Lịch Nguyệt Lê văn Lịch, Hộ Pháp Phạm Công Tắc.
"Sau đây Bần Đạo dạy về việc hành lễ Khánh Thành An Vị Vĩnh Nguyên Tự:
Chư hiền đệ muội có biết tại sao Chí Tôn Thượng Đế đã chọn ngày 13 tháng 3 để cử hành cuộc lễ đó chăng ? Sao lại không chọn thời gian khác để có đủ thì giờ chu toàn công việc tái thiết được hoàn mỹ thêm hơn ? Để khỏi mất thì giờ, Bần Đạo giải thích về đạo số cho chư hiền được rõ (…)
Chí Tôn Thượng Đế đã chọn ngày an vị khánh thành sắp tới đây để các sứ đồ con cái của Ngài ôn nhớ lại kỷ niệm thời kỳ khai nguyên lập đạo. Vì tác dụng, nhu cầu cho việc truyền bá đạo pháp cứu độ quần sanh (…) Thế nên, trong phạm vi hiện hữu với khả năng cố gắng tối đa của nhơn sanh chỉ tới chừng ấy, Chí Tôn vẫn cho phép hành lễ trong năm này để kịp thời sử dụng trong công cuộc cứu rỗi."
(Đức Đông Phương, Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, 20.02 Quí Sửu 24.03.1973)
-
TÌM HIỂU PHÁP CHÁNH TRUYỀN
Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ chánh thức ra mắt nhân sinh vào ngày Rằm tháng 10 năm Bính Dần (1926). Sau đó một ngày, Đức Chí Tôn liền ban hành ngay Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài để làm kim chỉ nam cho Hội Thánh thay mặt Ngài tại thế gian mà hành đạo cho có trật tự. Sự kiện đó chứng tỏ rằng luật lệ đối với hành chánh Đạo quan trọng dường nào.
Hiện nay Pháp Chánh Truyền và Tân Luật là luật lệ "căn bản" mà bất luận người tín hữu trong mọi chi phái nào nếu muốn làm đứa con tin của Đức Chí Tôn Thượng Tổ đều không thể thoát ngoài vòng chi phối của Pháp Chánh Truyền và Tân Luật.
-
Tại sao Hội Thánh lại dám mạo hiểm xưng mình là Thánh Thể của Đức Chí Tôn là Đại Từ Phụ, là Thầy của chúng ta ?
Thì Chí Tôn đã nói: Người đến giữ lương sanh đặng người có quyền năng hữu hình mà giáo hóa và cứu vớt quần sanh.
Ấy vậy Hội Thánh đã đặng mạng lịnh Thiêng Liêng của Người và làm cha làm Thầy cả con của Người. Cái quyền hành ấy cao trọng biết dường nào, chúng ta không cần đề luận. Muốn nắm quyền hành ấy nơi tay, tức phải tỏ ra mình là phẩm giá lương sanh mới đáng. Dầu toàn Hội Thánh hay một phần tử của Hội Thánh, tức là một vị Chức Sắc Thiên Phong cho đồng thể cùng Thần, Thánh, Tiên, Phật mới đáng là hình thể của Người. Nếu để phàm phong thì quả nhiên nhơn loại đã lăng mạ danh thể của Người, ấy là tội Thiên Điều chẳng dể dung thứ. Phẩm Thiên Phong chánh vị còn giữ phàm tánh thì lại lăng mạ danh thể của Người hơn thập bội.
-
Phật giáo có một lịch sử trên hai ngàn năm, truyền bá đến rất nhiều nước trên thế giới. Ngoài năm xứ của Ấn Độ, Phật giáo đã gieo rắc rất nhiều ảnh hưởng ở các nơi. Qua mỗi thời đại, Phật giáo tùy theo tình trạng xã hội của mỗi địa phương mà có ít nhiều biến thái về bản sắc. Vì thế, muốn nói đến điểm xuất phát của đạo Phật, không thể không đi sâu vào bối cảnh lịch sử của Ấn Độ thời bấy giờ.
-
LUYỆN KỶ /
Luyện kỷ phục sơ tánh trọn lành
Trăm ngày tận diệt gốc vô minh
Tâm can có chủ thần yên ổn,
Tai mắt vô quyền hết sự sanh
Tánh mạng song tu hay nhập Thánh
Âm dương lưỡng hiệp đặng trường sanh
Quay về nhà cũ không phiền não.
Luyện kỷ phục sơ tánh trọn lành
-
Đài Cao đất Việt
Thiện Quang
"Taynào đắp Đài Cao đất Việt
Taynào xây Thánh Triết Nambang
Làm cho mối đạo huy hoàng
Làm cho rạng rỡ họ hàng Rồng Tiên?"
Đức Đông Phương Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài,
Thiên Lý Đàn,
15 rạng 16 tháng 3 Giáp Thìn (26-4-1964)
Trong một năm, tháng Ba âm lịch là tháng có nhiều ngày lễ đặc biệt đối với đời sống tâm linh của người Việt: ngày 10 tháng Ba âm lịch là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, ngày 13 tháng Ba âm lịch là ngày Thiên Nhãn của Thượng Đế xuất hiện,… Có thể nói rằng tháng Ba là tháng của sự giao hòa giữa tổ quốc và Đại Đạo. Sự giao hòa ấy khiến nhiều người Cao Đài mang dòng máu Lạc Hồng nhớ lại thiên chức của mình trong sứ mạng kỳ ba mà Đức Chí Tôn đã từng nhắc nhở:
"Con ơi! Đạo là tuệ giác thiên nhiên trong căn bản của Nguyên Nhân; hành đạo là thế đứng vững vàng và có lối tiến của người Thiên chức phục vụ cho đạo pháp và tổ quốc."[1]
[1]Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế; Thiên Lý Đàn, Tuất thời 30-10 Mậu Thân (19-12-1968)
Ảnh trên : Đền Hùng
-
Ý NGHĨA THẦN CHÚ ĐẠI BI
Thời Phật còn tại thế, ở núi Bồ đà lặc ca, tại đạo tràng Bảo trang ghiêm cùng hàng tam thừa bát bộ và chư thần vân tập đông đủ, ngài Quán thế âm bí mật phóng hào quang soi khắp mười phương quốc độ, Ngài chấp tay bạch rằng:
" Bạch Đức Thế Tôn, con có thần chú bí mật muốn nói cho mọi người biết để trì tụng cho thân tâm được an lạc, không tật bệnh, sống lâu nhiều phước lộc. Thần chú này có công năng dứt trừ các tội ác và cầu mong gì thì như ý muốn."
Đức Phật chấp nhận cho ngài Quán thế âm được trình bày thần chú của mình. Ngài bạch Phật rằng:
"Thời quá khứ trải qua vô lượng ức kiếp có đức Phật xuất thế, hiệu Thiện Quang vương Tịnh trú Như lai, vì con mà nói thần chú Đại bi. Thuở ấy, con đang ở quả vị sơ địa mà một lần nghe thần chú Đại bi, con liền đạt đến quả vị thứ tám. Con phát đại nguyện: "Nếu thần chú này làm cho chúng sanh đời sau có sự ích lợi to lớn thì phải khiến thân con có ngàn cánh tay và ngàn con mắt".
Nguyện như vậy rồi, quả thật thân con có ngàn cánh tay và ngàn con mắt, tha thứ vang động. Các đức Phật phóng hào quang chiếu nơi thân con. Hào quang cùng chiếu vô biên thế giới.
-
Thông thường chúng ta hiểu đơn giản là Đức Đông Phương Lão Tổ dạy tịnh luyện và Đức Giáo Tông Vô Vi đảm trách phần hành sự, tuy nhiên nhiều lần Đức Giáo Tông nhắc nhở về tầm quan trọng của công phu.
-
Ta thường thấy câu “Tiên học lễ hậu học văn” được nêu ở các trường học như là một tôn chỉ giáo dục trong nhà trường. Khi đọc về Nho giáo, có thể thấy thầy Khổng Tử là người được Nho gia tôn là “Chí Thánh” hay “Vạn Thế Sư Biếu”, nghĩa là người thầy của mọi thế hệ.
-
Trí và Thức là hai lãnh vực mà có nhiều người học đạo chưa phân biệt được rõ ràng. Thực là một điều đáng tiếc.
Có bài thơ như vầy trong kinh Đạo Giáo :
Học Đạo chi nhơn bất ngộ chơn,
Chỉ vị tùng tiền nhận Thức thần.
Vô lượng kiếp lai sanh tử bổn,
Si nhơn hoán tác Bổn lai nhơn.
Nghĩa là :
Học Đạo lắm người hay hiểu sai,
Chỉ vị nhìn lộn Thức thần hoài.
Vô ngằn kiếp số gây sanh tử,
Mà kẻ ngu si tưởng Bổn lai.
Trong bài thơ nầy, người ta đối chọi hai chữ Thức thần và tánh Bổn lai. Thức thần nói tắt là Thức, còn tánh Bổn lai tức là Trí. Đó là hai chữ mà hôm nay chúng tôi muốn đem ra luận giải cùng quý vị.
