Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Sáng tinh mơ, khách dạo quanh vườn hoa kiểng, chợt bước vào nếp cỏ xanh, thấy lớp sương còn đọng long lanh giữa tiết Đông giá buốt. Khách thầm nghĩ, nếu như Xuân về muộn, mai nầy sương sẽ đóng băng, tự nhiên cản lối di hành. Ôi ! cái luật dinh hư tiêu trưởng có chờ ai chậm tiến! Bỗng nhớ câu “Lý sương, kiên băng chí” trong quẻ Khôn Kinh Dịch.
-
Trong Tin mừng Thánh Mát-thêu kể lại có một người đến thưa cùng Đức Giê-su rằng : “Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời?” Đức Giê-su đáp : “Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các điều răn”. (Mát-thêu 19:16-17)
-
Ấn Độ và một số vùng của Nam Á và Đông Nam Á; nhiều học giả Phật học tại các nước Đông Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan và Việt Nam cũng có thể dùng được tiếng Phạn.
Số người nói như tiếng mẹ đẻ: 6.106 (thống kê 1981); 194.433 số người nói như thứ tiếng thứ hai (thống kê 1961)
-
Victor L. Oliver cho rằng đạo Cao Đài chịu ảnh hưởng của ba nền văn hóa: văn hóa Trung Quốc; văn hóa Ấn Độ, và văn hóa Pháp. Ông cũng không quên nói rằng sự ra đời của đạo Cao Đài còn do ảnh hưởng của bối cảnh văn hóa Việt Nam vào đầu thế kỷ 20. . . .
-
Trong nội bộ Cao Đài, mấy năm gần đây, thỉnh thoảng chúng ta có nghe bàn về ngày Khai Đạo, về ngày Khai Tịch Đạo. Có nơi (như Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài) chọn ngày mồng 1 tháng giêng (Tết Âm lịch) làm ngày Khai Đạo, có nơi (như Nam Thành Thánh Thất) cho rằng ngày 23-8 mới đúng là ngày Khai Đạo (và không đồng ý chữ Khai Tịch). Một số tác giả (như Đức Nguyên viết trong Cao Đài Từ Điển) lại có ý kiến khác.
-
"Hãy giữ gìn quyền pháp đạo luật.
Hãy bảo trọng Thánh thể của Chí Tôn..."
-
Những ai học Dịch đều hiểu rõ và nhớ ơn các
Thánh – Phục Hy, Văn Vương, Chu Công
Đán và Đức Khổng Tử. Đây là Tứ Thánh đã có
công chế tác, san định và hoàn chỉnh bộ Thiên
thơ Kinh Dịch cách đây mấy ngàn năm, và cho
đến ngày nay vẫn được hậu thế tiếp tục học hỏi,
nghiên cứu để áp dụng theo những lời dạy của
các Thánh xưa trong bộ Kỳ Thư Bảo Điển này.
Tài liệu viết về Đức Chu Công rất hạn chế –
chỉ có trong quyển Luận Ngữ và Trung Dung ở
chương 19. Nhưng không vì vậy mà chúng ta sẽ
không tìm hiểu được thân thế và công đức to
lớn của ngài. Bài viết sau đây để chúng ta tìm
hiểu Lễ đời nhà Chu.
-
LIỄU giải (1) cho đời nhẹ tội khiên(2
TÂM người Bồ Tát(3) rộng vô biên
CHƠN như bất động,(4) chơn như chủ(5)
NHƠN dục(6) bao giờ có thắng Thiên(7).
-
Đặc biệt , đối với Nữ phái, thánh nhân thường dạy Đạo Khôn phù hợp với Âm tính mềm mại, ôn hòa; có đức bảo dưỡng , chở che, tha thứ; lại có lòng vùa giúp, tá trợ cho mọi người đạt đến thành công.
Khôn đạo rất thâm sâu, Ban Biên Tập mạo muội sưu tầm dưới đây một số thánh ngôn để quí huynh tỉ tham khảo, mong rằng gợi lên được ít nhiều ý đạo trên đường tu công lập đức.
-
清 靜經
Thanh Tĩnh Kinh
● Lê Anh Minh dịch & chú thích
Kinh này có tên gọi đầy đủ là «Thái Thượng Lão Quân Thuyết Thường Thanh Tĩnh Kinh» 太上老君說常清靜經, còn có tên là «Thái Thượng Hỗn Nguyên Thượng Đức Hoàng Đế Thuyết Thường Thanh Tĩnh Kinh» 太上混元上德皇帝說常清靜經, «Thường Thanh Tĩnh Kinh» 常清靜經, hay «Thanh Tĩnh Kinh» 清靜經. Nội dung của kinh là giải thích sự diệu dụng của thanh tĩnh. Để đạt sự thanh tĩnh thì người tu phải «tam quán»: nội quán (nhìn vào trong), ngoại quán (nhìn ra ngoài), và viễn quán (nhìn ra xa). Tam quán để thấy vạn vật đều là không; tức là «trừng tâm» (làm trong sạch tâm) để diệt trừ vọng tâm, diệt trừ phiền não.
Tác giả của bản kinh này chưa rõ là ai. Có thuyết cho rằng đó là Cát Huyền 葛玄 (164-244); có thuyết cho rằng tác giả là một đạo sĩ ẩn danh, sống vào đời Đường (618-907) hoặc Ngũ Đại (907-1279). Bản kinh này (có lời chú của Thuỷ Tinh Tử 水精子) đã được đưa vào «Chính Thống Đạo Tạng» 正統道藏. Đây là bản kinh được giới Đạo sĩ rất xem trọng. Giáo phái Thanh Tĩnh Phái 清靜派 của Toàn Chân Đạo 全真道 quy định đây là bản kinh nhật tụng của đạo sĩ bản môn, nên bản kinh được lưu hành rất rộng và có nhiều bản chú thích của các nhà như: Đỗ Quang Đình 杜光庭, Thuỷ Tinh Tử 水精子, Hỗn Nhiên Tử 混然子, Hầu Thiện Uyên 侯善淵, Lý Đạo Thuần 李道純.●
-
Các nhà viết sử đều tỏ thái độ rất trân trọng đối với nhà thơ Lý Bạch (701-762) về mặt tư tưởng phóng khoáng thanh cao và tài năng thi phú. Nhưng chẳng phải với bấy nhiêu vốn đáng trân trọng đó mà chơn linh nhà thơ Lý Bạch, sau khi về cõi trên, được Đức Chí Tôn giao phó trọng trách Giáo Tông Vô Vi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ...
-
. . . Như chư hiền đã biết, bất cứ lãnh vực nào, nhất là lãnh vực Đạo Giáo giáo, giá trị tinh thần, giá trị của tâm linh luôn luôn là một giá trị được đề cao bậc nhất. Tác năng của tâm linh sẽ chi phối to tát đến mọi hoạt động của thể chất và tư tưởng. Đối với những người mệnh danh là hướng đạo, là nồng cốt cho cơ đạo cứu thế, những kẻ hiến dâng cho ánh sáng lý tưởng Đại Đạo thì nền tảng tâm linh phải được xác định trước tiên và hơn ai hết. Vì vậy, kế sách về tâm linh cho những kẻ hiến dâng phải được đề cập trước nhất. Bần Đạo cũng nhắc lại trên phạm trù tâm linh, giá trị đức tin là giá trị của ý chí hiến dâng cho một lý tưởng sáng chói để cứu thế. Có một đức tin dõng mảnh là đã có một ý chí hào hùng tin quyết về kết thúc cao quý của sự cứu độ toàn dân sinh bằng một lý tưởng thật sự thanh cao của Đại Đạo.
