Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Các Đấng Giáo Chủ nhận thấy bản thể của Vũ Trụ :
Nho Giáo gọi là Thiên hay Đế,
Lão Giáo gọi là Đạo hay Đức,
Thích Giáo gọi bằng Pháp hay Phật,
Dịch thì nói Vô Cực hay Thái Cực.
-
Thầy dành cho trẻ một mùa xuân,
Đi lại trần gian xóa khổ trần,
Như lý Đạo mầu đang cứu cánh,
Cho đời thuần túy nét thanh tân.
-
TIỂU SỬ ĐẠO TRƯỞNG CHƠN TÂM – NGUYỄN TRIỆU KHA
(1908 – 1995)
-
Qua tham khảo các đề tài nghiên cứu hay thuyết giảng giáo lý đạo Cao Đài, chúng ta có thể thấy nhiều soạn giả khai thác các hệ thống phạm trù cơ bản của nền Giáo lý Đại Đạo được xếp loại như sau:
I. Hệ thống Bản thể: Vô Cực – Thái Cực – Hoàng Cực
II. Hệ thống Chủ thể: Diêu Trì Kim Mẫu – Ngọc Hoàng Thượng Đế - Đấng Thiêng liêng
III. Hệ thống Thiên cơ: Đạo – Sanh hóa – Tiến hóa
IV. Hệ thống tâm linh: Đại linh quang – Tiểu linh quang –Chân ngã- Linh hồn
V. HT. Đạo pháp : Nguyên thần – Tánh Mạng – Thần khí
VI. HT. Sứ mạng: SM. Đại đồng - SM. Đại thừa - SM. Quy nguyên
-
Lịch sử của tư tưởng nhân loại là một hành trình tìm kiếm lời giải đáp cho những câu hỏi muôn đời về sự hiện hữu của con người:
Ta là gì? Ta là ai?
Ta từ đâu đến thế giới này?
Ta đến thế giới này để làm gì?
Ta sẽ đi về đâu, sau khi từ giã thế giới này?
-
Học tập Thánh giáo – Tháng 6 nhuần năm Đinh Dậu 2017
Trúc Lâm Thiền Điện, 20-10 Quý Sửu (14-11-1973)
Học tập Thánh giáo – Tháng 7 năm Đinh Dậu 2017
Minh Lý Thánh Hội, 06-10 Nhâm Tý (11-11-1972)
Học tập Thánh giáo – Tháng 8 năm Đinh Dậu 2017
Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, 14-8 Tân Dậu (11-9-1981)
-
Đạo Cao Đài (tên gọi tắt của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ) được khai minh trên mảnh đất Việt Nam vào những năm 20 của thế kỷ trước. Theo đức tin của đạo hữu, tôn giáo này do Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế (hay còn gọi là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát) mở ra tại Việt Nam vào đầu thế kỷ XX qua huyền diệu cơ bút thông linh mà thâu nhận, truyền dạy các đệ tử mà về sau là những tiền khai xây dựng nên.
-
Trong một kiếp giáng sanh xuống trần gần đây nhứt tại Bạc Liêu, Cửu Nương có tên là CAO THOẠI KIẾT (theo gia phả). Chữ KIẾT tức là giọng địa phương đọc chữ CÁT , nghĩa là tốt lành. Cô sanh ngày 16-01 Bính Thân (28-02-1896 theo lịch vạn niên và gia phả, nhưng trên mặt mộ ghi năm 1895), tại ấp Vĩnh Hinh, xã Vĩnh Lợi, tổng Thạnh Hưng, hạt Bạc Liêu (nay là thị xã Bạc Liêu). Cô Cao Thoại Kiết được gia đình gả cho ông Nguyễn Bá Tính, con thứ của đốc phủ Nguyễn Bá Phước. Khoảng hai năm sau cô Kiết thọ bệnh và mất ngày 27-5 Canh Thân (10-7-1920) lúc 24 tuổi.
-
Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, 10
giờ đêm ngày 29 tháng 8 Quí Hợi (5.10.1983)
-
Những nỗi niềm nhân sinh mang ý nghĩa tríết học xuất phát từ sự phản tỉnh của tâm thức khao khát tìm kiếm lẽ thật của đời người đã dẫn dắt con người đi đến cảm nhận sâu sắc về nỗi cô đơn cũng như những bi kịch tất yếu của kiếp người để chấp nhận nó và hóa giải nó một cách “tùy duyên” bằng cái tâm trong sáng và an định. Mặt khác, những nỗi niềm nhân sinh mang ý nghĩa xã hội xuất phát từ sự phản tỉnh của tấm lòng lo đời thương dân đã mang đến cho con người trong thơ vẻ đẹp của sự quên mình và tận tụy. Nét đẹp nhân văn ấy phải chăng đã góp phần không nhỏ khẳng định nhân cách lớn lao của con người thời Đông A cũng như dấu ấn khó phai của một thời đại thơ ca một đi không trở lại.
-
VŨ TRỤ QUAN
Có thể nói Vũ Trụ Quan Cao Ðài bao hàm hai khái niệm quan trọng là:
-Cơ nguyên biến sanh vũ trụ.
-Qui luật tiến hóa tâm linh.
-
TRÍCH LỤC THÁNH GIÁO
Đức Chí Tôn dạy về KHAI MINH ĐẠI ĐẠO tại Cơ Quan PTGLĐĐ vào ngày 15.10.Quí Sửu
