Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Hình : Lễ giổ Iổ Hùng Vương tại Phú Thọ-miền Bắc VN
Viết về Họ Hồng Bàng, quyển Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim [1] có chép:
'Cứ theo tục truyền thì Vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam đến Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau đẻ ra người con tên Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc, và phong Lộc Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ.
Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía Bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía Namgiáp nước Hồ Tôn (Chiêm thành), phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía Đông giáp bể NamHải.
Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào quãng năm Nhâm Tuất (2879 trước Tây Lịch?) và lấy con gái Động Đình Quân là Long nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân.
Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ một lần được một trăm người con trai. Lạc Long quân bảo Âu Cơ rằng: "Ta là dòng dõi Long-quân, nhà ngươi dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được. Nay được trăm đứa con thì nhà ngươi đem 50 đứa lên núi, còn 50 ta đem xuống bể Nam Hải."
-
Hôm nay, tôi xin được phép dùng nội dung “Cảm ứng luận” để trình bày phần nói về cái nghĩa cảm ứng theo Đạo giáo. Sau đó, là sự dẩn dụ lý cảm ứng qua lời dạy của Thánh nhơn và về lý cảm ứng trong hai đường lành dữ : hễ cảm lành thì ứng lành, cảm dữ thì ứng dữ. Phần tiếp theo sẽ luận đến cảm ứng theo Thích giáo và Nho giáo và sau cùng là hiệp lý tam giáo để luận cảm ứng trong phương tu “ Phản bổn huờn nguyên”.
Phần trình bày sẽ có các đề mục sau đây:
1. Nghiên cứu về ý nghĩa cảm ứng của Đạo giáo;
2. Dẩn dụ cảm ứng trong Thánh ngôn;
3. Chỉ rõ lý cảm ứng trong hai đường lành dữ;
4. Luận về cảm ứng theo Thích giáo và Nho giáo;
5. Kết luận hiệp lý tam giáo.
6. Cảm ứng trong phương tu “Phản bổn huờn nguyên”
-
"Thầy là bực hoàn toàn vĩnh viễn, trường cửu trong cõi Hư Vô tuyệt đối. Nay vì lòng bác ái của Thầy muốn cho các con tấn hóa về nẻo tinh thần đạo đức nên chi Thầy dụng cái phương pháp phi thường ngoài sự hiểu biết của phàm nhân mà dạy các con.
Thầy tức là NGUYÊN-LÝ của VÔ-VI ĐẠI-ĐẠO, chủ quyền tạo hóa cả Càn Khôn Vũ Trụ và sanh sản các Thiên Lý để gieo truyền cho nhân vật từ giống thấp hèn đến loài cao trọng. Đó là nguồn cội vô thủy vô chung đó các con ..."[1]
-
Pháp tu luyện huyền môn Bác Nhã,
THÍCH, ĐẠO, NHO gồm cả thiên nhơn;
Cũng đồng phá vọng hiển chơn,
Thành PHẬT nhập THÁNH, đắc đơn cũng là.
-
Tư tưởng Đức Phật như một buổi đại yến tiệc, mà nói như nhà thơ Bùi Giáng, chỉ cần một hạt cơm thừa trên bàn tiệc đó cũng quá đủ để chúng ta thụ dụng suốt bình sinh. Điều đó ta càng dễ dàng cảm nhận khi đi sâu vào thế giới kinh điển Phật giáo.
Không cần đến cảnh giới hoành tráng được mô tả trong kinh Hoa Nghiêm hay tư tưởng siêu việt được diễn đạt trong kinh Đại Bát Nhã, vốn là những thứ có thể làm cho những kẻ sơ cơ như chúng ta khiếp hãi, mà ngay những câu kệ đơn giản mộc mạc trong kinh Pháp Cú hay kinh Phật thuyết Bát Đại Nhân Giác cũng khiến chúng ta cảm nhận được chiều sâu thăm thẳm, khi chúng ta đọc những trang kinh đó bằng những suy niệm chân thành.
Trong phần cuối của bài kệ thứ ba trong kinh Phật thuyết Bát Đại Nhân Giác, Đức Phật dạy rằng, bậc Bồ tát cần phải: "Thường niệm tri túc, an bần thủ đạo, duy Tuệ thị nghiệp”. (Thường nghĩ đến việc biết đủ, yên trong cảnh nghèo mà giữ đạo, chỉ lấy việc đạt đến tuệ giác làm sự nghiệp đích thực của mình). Kinh Phật thuyết Bát Đại Nhân Giác rất ngắn, chỉ gồm tám bài kệ ngắn nói về tám điều giác ngộ lớn, song chỉ cần một phần của bài kệ thứ ba này cũng đủ làm kim chỉ nam cho những ai thành tâm tu học, muốn đi vào thế giới của Phật đà.
-
Sáng 28-09-2013, Tu viện Phănxicô Đakao đã tổ chức một buổi gặp gỡ, hội thảo và chia sẻ liên tôn giáo nhân mùa kỷ niệm Ngày Về Trời của Thánh Phănxicô Atxidi (tiếng Ý: San Francesco d'Assisi). Theo tinh thần sống hòa bình và vui tươi của Thánh Phănxicô, cũng như theo chủ trương đối thoại liên tôn giáo của Ngài, buổi hội thảo đã diễn ra quanh chủ đề “Quan niệm NIỀM VUI theo Phật giáo, Cao Đài và Công giáo”. Dưới đây là bài tham luận hội thảo của Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo.
-
TÂN PHÁP CAO ĐÀI
1 Tổng quan
2 Ý nghĩa Tân Pháp Cao Đài
2.1 Chính Đức Thượng Đế mở TânPháp Cao Đài
2.2 Chọn dân tộc Việt Nam để ban Tân Pháp Cao Đài
2.3 Tân Pháp Cao Đài giải tỏa lớp vô minh, mở con đường tiến hóa
2.4 Tân Pháp Cao Đài dụng thế thiên nhơn hợp nhất
2.5 Tân Pháp Cao Đài con đường quy Tam giáo hợp Ngũ chi
3 Phápmôn Tân Pháp Cao Đài
3.1 Tân Pháp Cao Đài là pháp môn Đại ân xá
3.2 Tân Pháp Cao Đài là pháp môn Tam Công
4 Kết luận
-
Đức Ngô Minh Chiêu là vị đệ tử đầu tiên của Đức Cao Đài Thượng Đế; đứng đầu một nhánh Đạo của Cao Đài giáo: Nội giáo Tâm truyền, chuyên lo tịnh luyện tu đơn (còn gọi là Chiếu Minh), Ngài đã đắc Đạo vào hàng Đại Tiên, để lại nhiều sự kính mến và ngưỡng vọng. Các Hội Thánh nhánh Phổ độ, nhiều nơi cũng thờ Ngài trên Thiên Bàn.
Bài viết này nhằm khắc họa lại vài nét về con người, về nhân cách sống của Ngài Ngô khi còn sanh tiền, kể cả thời gian Ngài chưa biết Đạo. Nói theo giáo lý Cao Đài đó là phần Nhơn đạo của Ngài; chủ ý cho thấy Ngài Ngô cũng sinh ra và lớn lên như một con người bình thường, và cuối cùng Ngài trở thành một nhân vật phi thường.
-
Nous avons tous une tête, un nez, une bouche, un nombril, deux yeux, deux bras, deux jambes, cinq doigts à chaque main, cinq orteils à chaque pied … Vous pouvez ainsi le constater, tout est Nombre, même pour ce qui nous touche intimement c’est à dire concernant notre propre corps.
Tout est Nombre c’est ce qu’enseigna déjà Pythagore il y a 25 siècles. Platon lui fit écho et les Sages d'Alexandrie transmirent cette connaissance à l'Occident chrétien. . . .
-
DẩN NHậP
Hạnh nguyện của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát là :
" Trần gian vạn khổ còn kia,
Lòng người Bồ Tát đâu lìa chúng sanh"
Đức Bồ Tát dạy : "Chư hiền đệ, hiền muội phải hiểu:
- con đường mình đang đi phải đi về đâu,
- đi đến chỗ nào duy nhứt,
- rồi sẽ định việc làm.
- Trước khi làm phải hiểu việc làm thế nào cho hợp tình hợp lý, có nghĩa, có nhân.
Được như vậy mới dám hy sinh mọi mặt, mới có can đảm vượt qua mọi chướng ngại"
Qua lời dạy này Đức Bồ Tát muốn chúng ta phải biết Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đưa chúng ta đi đến đâu, và bằng cách nào để đi được tới nơi ? Mục đích, tôn chỉ, lập trường của Đại Đạo là giải đáp cho hai vấn đề trên.
-
Hành pháp tuy rất dễ,
Công phu có khó chi,
Chỉ tại tâm không định,
Chánh pháp khó duy trì.
-
Thời kỳ mạt pháp là thời kỳ được bắt đầu từ sau khi đức Phật nhập niết bàn 1500 năm, được khái lược trong ba điều trọng yếu: Có giáo lý, không hành trì, không quả chứng.
Chư Tổ sư giảng về điều này như sau: Thời mạt pháp chẳng phải là không có người hành trì. Song kẻ hành trì đúng theo giáo lý rất ít, hầu như không có, nên mới gọi là không hành trì. Mà bởi hành trì không đúng nên không có người chứng đạo. Bởi thế nên chư Tổ thường than: “Người học đạo nhiều như lông Trâu, người đắc đạo như sừng Thỏ.”
