Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Hải Thượng Lãn Ông là tên hiệu của Lê Hữu Trác (còn có tên là Lê Hữu Huân), một nho gia và danh y Việt Nam vào cuối đời Hậu Lê. Ông sinh năm 1720 (?), người xã Liêu xá, huyện Đường Hào, trấn Hải Dương (nay thuộc phủ Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên).
-
TỔNG QUAN VỀ VŨ TRỤ LUẬN ĐẠI ĐẠO
1. Nguồn gốc vũ trụ
1.1. Khái niệm về vũ trụ
1.2. Bản Thể Vũ Trụ
1.3. Cơ nguyên sinh hóa vũ trụ
1.4. Đại Linh Quang - Tiểu Linh Quang. Thượng Đế Vô Ngã - Thượng Đế Hữu Ngã.
2. Sự vận động và biến hóa của vũ trụ
2.1. Quy luật Âm Dương tương tác
2.2. Quy luật tuần hoàn quy nguyên
3. Vũ trụ tâm linh
4. Sự tiến hóa của vũ trụ
5. Kết luận
-
LUYỆN KỶ /
Luyện kỷ phục sơ tánh trọn lành
Trăm ngày tận diệt gốc vô minh
Tâm can có chủ thần yên ổn,
Tai mắt vô quyền hết sự sanh
Tánh mạng song tu hay nhập Thánh
Âm dương lưỡng hiệp đặng trường sanh
Quay về nhà cũ không phiền não.
Luyện kỷ phục sơ tánh trọn lành
-
I. Định nghĩa Nhân văn: Nhân 人 là con người; Văn: 文 là văn vẻ; văn từ; cái dấu vết do đạo đức lễ nhạc giáo hóa mà có vẻ đẹp đẽ rõ rệt gọi là \"văn\", như văn minh, văn hóa . . . (Hanosoft Dictionary)
Tính nhân văn: phẩm chất tốt đẹp, đạo đức, sáng tạo của con người.
Tính nhân văn được thể hiện trong những lãnh vực như lịch sử, văn hóa, triết học, tâm lý học . . .
-
Tổng hợp và tóm lược thánh giáo của Đức Đại Tiên Lê Văn Duyệt: tại:
_ Nam Thành Thánh Thất, 31-3-1969 (14-02-Kỷ Dậu),
_Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, Tý Thời 14 rạng Rằm tháng 2 Canh Tuất (21-3-70)
-
Pháp tu luyện huyền môn Bác Nhã,
THÍCH, ĐẠO, NHO gồm cả thiên nhơn;
Cũng đồng phá vọng hiển chơn,
Thành PHẬT nhập THÁNH, đắc đơn cũng là.
-
Hôm nay, theo vận số của một năm là thời điểm Hạ nguơn. Thời điểm này được chọn làm ngày Khai Minh Đại Đạo. Điều đó có ý nghĩa rằng Đại Đạo được khai minh trong giai đoạn chót của đại chu kỳ vũ trụ để ban cho nhân loại một đặc ân cuối cùng.
Thật ra Đại Đạo vẫn có, hằng có, đã có từ vô thỉ và còn đến vô chung. Công cuộc khai minh là cơ hội mà cái Đức của Đạo được bày ra sáng tỏ nhất, mở ra cho người giác ngộ một dịp may tham dự vào cơ hành tàng của Đạo để tiến hóa nhanh chóng đồng thời chuyển hóa nhanh chóng nhân loại trở về Đạo lý.
- Người nhận được ánh sáng Chơn lý của Đạo để hành đạo tự thân gọi là người Thiên ân.
- Kẻ phát tâm đem Chơn lý ấy gây ý thức sống đạo cho mọi người gọi là có sứ mạng.
Thiên ân và sứ mạng luân động kết thành một đường Đạo tâm sáng ngời càng ngày càng tỏa rộng giữa thế gian khiến cho Đại Đạo được khai minh để dòng Thiên ân tuôn chảy vào chính nơi được khai minh ấy.
Do những cảm nhận ấy, trong khung cảnh thiêng liêng hôm nay, chúng ta hãy cùng thấm nhập dòng Thiên ân vi diệu, để ngày mai lại lên đường tiếp nối đuốc khai minh.
-
Tôi không biết cuộc đời, hay đúng hơn là cõi người tốt xấu thế nào mà từ các vị giáo chủ, các nhà hiền triết đến giới văn nhân, thi sĩ… ai cũng chê tuốt luốt! Các ngài bảo đời là bể khổ, là trường tranh đấu, là chốn bụi trần, là cõi phù du, là cõi tạm, là … đủ thứ không mấy ai ưa! Đặc biệt hơn cả, có vị thẳng thừng từ chối kiếp người nếu có cơ hội làm lại từ đầu:
"Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo"
(Nguyễn Công Trứ)
-
Nghệ thuật không thể là cái cầu nối giữa Khoa học, Triết học với Tôn giáo. Không thể là cầu nối giữa hai bờ sông. Không thể là cầu nối giữa hai đỉnh núi. Không thể là cái cầu. Nhưng nó là sự nối tiếp giữa chủ quan và khách quan, giữa cái logic và cái phi logic, giữa bên ngoài và bên trong, giữa hôm nay và ngày mai.
-
Chánh niệm có thể chuyển hóa tất cả các mối quan hệ cá nhân. Khi né tránh sự đau khổ, có nghĩa là chúng ta ruồng bỏ những người thân cũng như chính chúng ta. Nhưng khi nhìn vào bất cứ những điều gì nảy sinh bên trong chúng ta một cách chánh niệm và từ ái là chúng ta có thể hiện diện một cách đích thực và sống động với chính mình và với người khác.
-
CƠ QUAN PHỔ THÔNG GIÁO LÝ ĐẠI ĐẠO
HUỆ NHẪN
12/2006
NGŨ CHI ĐẠI ĐẠO
(Năm chi Đạo họ Minh)
VÀ NHỮNG LIÊN HỆ VỚI ĐẠO CAO ĐÀI
-
Trong một kiếp giáng sanh xuống trần gần đây nhứt tại Bạc Liêu, Cửu Nương có tên là CAO THOẠI KIẾT (theo gia phả). Chữ KIẾT tức là giọng địa phương đọc chữ CÁT , nghĩa là tốt lành. Cô sanh ngày 16-01 Bính Thân (28-02-1896 theo lịch vạn niên và gia phả, nhưng trên mặt mộ ghi năm 1895), tại ấp Vĩnh Hinh, xã Vĩnh Lợi, tổng Thạnh Hưng, hạt Bạc Liêu (nay là thị xã Bạc Liêu). Cô Cao Thoại Kiết được gia đình gả cho ông Nguyễn Bá Tính, con thứ của đốc phủ Nguyễn Bá Phước. Khoảng hai năm sau cô Kiết thọ bệnh và mất ngày 27-5 Canh Thân (10-7-1920) lúc 24 tuổi.
