Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Đây là chuyện tôi nghe. Ngày nọ người ta kháo nhau quỷ sứ đang bán hàng đại hạ giá. Mọi thứ đồ nghề chuyên dùng của quỷ được bày lũ khủ ở chợ trời, ai cũng có thể tới xem và tùy thích chọn mua bao nhiêu cũng được. Lại nghe đâu nếu mua nhiều, quỷ sứ còn có khuyến mãi đặc biệt.
-
Trướt hết, cần tìm hiểu hai chữ "đồng hành".
Theo nghĩa hẹp, đồng hành là "cùng đi", nhưng cùng đi trong tình huống nào ? Đi cùng một lúc hay cùng một đường, và có cùng đi đến một mục đích hay một địa điểm không ?
Nên đồng hành còn có nghĩa rộng rất quan trọng.
-
Đỗ Thị Duyên, Thùy Nhiên, Đào Thiên Niên, Hương Lan
Bài viết này là một phần trong đề án nghiên cứu "Quyền pháp – tình thương và sự sống", nhằm trình bày yếu điểm giáo lý "Quyền Pháp" bằng một ngôn ngữ gần gũi hơn với xã hội, sao cho người đời có thể nhìn thấy được những ứng dụng thực tiễn của chủ đề giáo lý này trong đời sống hàng ngày.
Trong quyển Yếu Điểm Giáo Lý Đại Đạo, hai chữ "Quyền Pháp" được giải thích như sau: "Quyền là tình thương, Pháp là sự sống."[1] Còn trong Đạo Học Chỉ Nam, "Quyền là hình thức thể hiện trước đối tượng, Pháp là thể hiện trước bản thân"[2]. Mục đích của bài viết này là diễn dịch những định nghĩa như vậy bằng một cách thức đơn giản hơn, để xã hội dễ tiếp thu hơn.
[1] Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, Yếu Điểm Giáo Lý Đại Đạo, tr. 89.
[2] Đạo Học Chỉ Nam, chương 4, tiết 4, mục 1.
-
"Đức Thượng Đế đến khai đạo đã là một hi hữu, mà vấn đề hoát khai Đại Đạo để cứu độ vạn linh lại là một hi hữu khác."
(CQPTGL,Hội Đồng Tiền Bối, 14.2.Giáp Dần 1974)
-
Trước kia Thầy có dạy : "Đạo còn thì Hiệp Thiên Đài còn.". Quả thật vậy ! Sáu mươi năm Khai đạo có biết bao nhiêu thánh giáo, thánh ngôn, lời tiên, tiếng phật, đến ngày nay các con vẫn còn học hỏi với Thầy qua sự trung gian của đồng tử. Nếu chỉ có bao nhiêu sự việc thì chưa hết ý của Thầy muốn nói gì với các con. Đến một ngày nào Thầy không dùng đồng tử thì Đạo bế sao con ! mà phải hiểu mỗi con đều có một Đài Hiệp Thiên. Nếu con mở được cửa thì thông công được với Thầy khỏi phải qua trung gian của đồng tử, vì trước kia Thầy đã dạy, đã trao chìa khóa cho các con từ buổi sơ Khai Đại Đạo. Nhưng mấy ai giữ được thanh tịnh vô trần trực nhận chân tâm Đại ngã. Bởi vì các con làm chưa được nên Thầy phải cần dùng đồng tử dạy dỗ các con. Đồng tử được chọn bởi còn bẩm chất thuần phác thiêng liêng có đức hi sinh chế ngự cá tính phàm tục thường tình mới có điển lực thông công thượng từng Thiên điển giúp cho các con hoàn thành sứ mạng đã thọ lãnh trước Linh Tiêu.
-
Đây trước tiên, Bần Đạo dạy Ban Thường Vụ:
Chư hiền đệ là ở cấp lãnh đạo trong Cơ Quan, phải cố gắng thêm nhiều trong thời buổi nầy. Bần Đạo rất e ngại cho chư hiền đệ, khác nào lo cho một đoàn em đang đi trên bãi sa mạc, chẳng những thiếu phương tiện, còn bị ngoại cảnh biến muôn hình vạn trạng, làm cho cơ thể nhọc nhằn, tâm thần xao động, rồi phải lâm vấp vào một sự rủ ren ảo ảnh. Nhưng nếu chư đệ muội bình tĩnh để tìm nơi trí óc những lời các Đấng dạy trong hai năm qua, rồi sẽ sáng suốt và thấy rõ ràng một bức địa đồ, một kho lương thực, một bầu nước mát để cụ túc cho chư đệ muội trên viễn đồ thiên lý.
-
Đại Đạo khai minh kỳ ba độ tận nhân loại trên mọi phương diện của cuộc đời. Thế nên sứ mạng trọng đại của người hướng đạo phải được xem là cần thiết và liên tục để thực hiện mục đích tối thượng cùng hoài bão trọng đại của Chí Tôn Thượng Đế.
-
Quốc sư Vạn Hạnh và PG thời Lý đóng góp vào sự nghiệp hộ quốc an dân
TT. Thích Quảng Tùng
Phật giáo truyền vào Việt Nam theo các thuyền buôn từ Ấn Độ đến bằng gió mùa Tây Nam và về bằng gió mùa Đông Bắc. Theo sử sách ghi chép thì Trung tâm Phật giáo Việt Nam có từ đầu Công Nguyên tại Luy Lâu, Bắc Ninh.
Với tinh thần khế lý, khế cơ và tùy duyên bất biến Phật giáo đã hội nhập vào văn hóa bản địa về thờ cúng tổ tiên của người Việt để thành Phật giáo Việt Nam, nổi bật là tín ngưỡng Tứ Pháp.
Trong bối cảnh gần 1000 năm Bắc thuộc, Phật giáo Việt Nam sống trong lòng dân tộc, hòa mình cùng dân tộc. Nên khi đất nước bị nô dịch hà khắc thì Phật giáo cũng bị suy vong. Và cũng từ đó mà hun đúc nên các Thiền Sư vừa uyên thâm về nội điển vừa mang tư tưởng đấu tranh giành độc lập cho dân tộc như Thiền Sư Định Không, Cảm Thành và La Quý v.v…
Vào cuối thế kỷ thứ bảy, các Ngài đã dùng sấm vĩ để xác định tương lai của Đất nước và Phật giáo. Để vận động Phật tử, tín đồ và nhân dân đoàn kết lại cùng các trí thức đương thời phù Vua Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành đánh tan quân đô hộ phương Bắc, giành độc lập cho Đất nước, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc và đạo pháp vào cuối thế kỷ thứ 10.
-
Đa số chúng ta đã tìm hiểu các triết lý đông tây kim cổ để tìm ánh sáng cho cuộc đời, và cũng đã áp dụng những phương pháp tu tập khác nhau để giải khổ, song vẫn chưa an lạc, tự tại, chưa chắc chắn về con đường mình đang đi và vẫn còn mơ hồ về sự diệt khổ, chứng đắc, giải thoát, nhất là những gì bên kia cửa tử.
-
DẤU ẤN THỨ NHỨT: THƯỢNG ĐẾ LÂM PHÀM BẰNG LINH ĐIỂN KHAI ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
DẤU ẤN THỨ HAI: TÔN CHỈ "TAM GIÁO QUY NGUYÊN, NGŨ CHI PHỤC NHỨT"
DẤU ẤN THỨ BA: CỨU CÁNH "THIÊN NHƠN HIỆP NHỨT"
-
Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, 10
giờ đêm ngày 29 tháng 8 Quí Hợi (5.10.1983)
-
Mục tiêu tu luyện của Đạo giáo là trường sinh bất tử, là thành tiên 仙 hay chân nhân 真人, siêu xuất khỏi luân hồi và tứ khổ (sinh, lão, bệnh, tử). Nhưng trước khi đạt được cảnh giới đó, thì ngay trong cõi hiện tại, người tu tập phải kiện khang minh mẫn.
