Thống Kê Newsletter
Lần đầu đến với Nhịp Cầu Giáo Lý?

Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.

 
Có thể bạn chưa xem qua
  • Nhân ngày mùng 5 Tháng 5, Tết Đoan ngọ, là sinh nhật Đức Hộ Pháp, xin giới thiệu bài viết về Đức Ngài của soạn giả Huệ Nhẫn.


  • Giải pháp ưu việt nhất để cứu độ con người là con người làm thế nào phát huy tối đa tinh hoa bản thể chính mình.


  • Trong dân gian không biết tự bao giờ đã hình thành câu ca dao : “Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ” để nhắc nhở nhau ngày lễ tưởng niệm Cha là Đức Thánh Trần Hưng Đạo ngày 20.8 âm lịch, và kỷ niệm Mẹ là Đức Liễu Hạnh Thánh Mẫu vào ngày 3.3.Âm lịch.

    Hàng năm, lễ Vía Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh được tổ chức trang trọng tại tất cả những nơi nào có đền thờ Ngài, trải dài trên khắp đất nước Việt từ Bắc chí Nam nhưng đặc biệt nhất, tại Phủ Giầy, tên gọi vùng đất tương truyền là quê hương Ngài, lễ hội được tổ chức trọng thể kéo dài từ mồng 1 tháng 3 cho đến hết mồng 10 tháng 3 gọi là Hội Phủ Giầy hay Hội Thánh Mẫu Vân Hương. Đây là một trong những lễ hội nổi tiếng của cả nước. Hội mở linh đình nhộn nhịp thu hút một số lượng dân chúng đông đảo, nhất là dân ở mấy tỉnh Nam Định, Ninh Bình , Hà Nam, Thanh Hóa và Hà Nội. Phủ Giầy, là địa danh của vùng đất trong đó có quần thể kiến trúc gồm các đền, phủ và lăng mẫu thờ Mẫu Liễu thuộc xã Kim Thái, (trước là An Thái), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Hà, là nơi mà trong phạm vi một xã có mật độ di tích dày đặc. Ngoài Phủ Tiên Hương còn gọi là Phủ Chính (xưa kia, nơi này được qui định làm địa điểm tổ chức lễ hội), Phủ Vân Cát (còn gọi là đền Trình bởi trước khi sang lễ ở Phủ Chính, phải vào lễ trình diện ở Phủ Vân) thờ Mẫu Liễu Hạnh và Lăng Mộ của Ngài còn có một số đền chùa khác. Danh xưng Vân Hương Thánh Mẫu do ghép hai tên Vân Cát và Tiên Hương.


  • Cứ mỗi độ Xuân về là nhớ đến Kinh Dịch. Bởi Xuân ứng với Đức Nguyên của quẻ Kiền, người học Dịch tuy chưa nắm hết ý nghĩa sâu xa của Thánh Nhân trong Kinh Dịch, tuy với sự hiểu biết còn nông cạn cũng phải viết lên những điều suy nghĩ đã được học hỏi qua lớp Kinh Dịch Căn Bản tại CQPTGL.


  • Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, 11-8 Bính Dần (14-9-1986)


  • Từ Hà Nội xuôi về phía Nam 90 km là tỉnh Ninh Bình, nơi hội tụ nhiều di tích văn hóa lịch sử giữa một vùng danh lam thắng cảnh chan hòa khí thiêng sông núi.

    Rạng bình minh, khách có thể ngồi thuyền chiêm ngắm từng vách núi cheo leo còn đượm ánh sương mà thiên nhiên đã khéo léo chất chồng lớp lớp đá tảng phẳng phiu như các tháp Đế Thiên cổ kính. Núi và nước ở đây đã tạo thành một "Hạ Long trên cạn" mà thuyền có thể lướt qua Tam cốc (ba cái hang thông được nhau) rồi đến thăm đền Thái Vy vào Bích Động.


  • Một năm có bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông. Có 8 tiết : Lập Xuân, Xuân Phân, Lập Hè, Hè Chí, Lập Thu, Thu Phân, Lập Đông, Đông Chí. Năm nay mùa tu Đông Chí lại đến, chúng ta dừng chơn lại đôi khắc để xét nghiệm, dự trù công việc mình sẽ làm gì hữu ích cho thân tâm trong mùa tu Đông Chí nầy.


  • Phật Tiên Thần Thánh rộn ràng,
    Đồng vâng ngọc sắc cứu an cõi trần.

    Hiện diện trên cõi trần này, con người cũng đã trải qua nhiều kiếp. Trả hết nợ từ vô lượng kiếp, chúng ta mới có thể trở về. Đạo Thầy mở cơ tận độ, chỉ tu một kiếp được đắc vị, gọi là ”Tu nhứt kiếp, ngộ nhứt thời”. Cõi Thiêng Liêng không phải là nơi ở của những con người còn nặng nợ. Nhưng làm sao trả hết nợ chỉ trong một kiếp đời ngắn ngủi. Con người sẽ không chịu nỗi cảnh nghiệp quả dồn dập. Do đó, nếu không có Đại Ân Xá, các nguyên nhân khó trở về. Tân Pháp Cao Đài chỉ rõ: Nếu công quả là để giải trừ nghiệp quả, và cũng là đường dẫn đến Bạch Ngọc Kinh, thì công trình là chìa khoá mở cửa Bạch Ngọc Kinh và ngôi vị của chúng ta do phần công phu tu luyện vậy.


  • Ấn giáo nêu lên bốn phương pháp giải thoát (moksha) gọi là yoga hay mârga.


  • Đạo Cao Đài (tên gọi tắt của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ) được khai minh trên mảnh đất Việt Nam vào những năm 20 của thế kỷ trước. Theo đức tin của đạo hữu, tôn giáo này do Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế (hay còn gọi là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát) mở ra tại Việt Nam vào đầu thế kỷ XX qua huyền diệu cơ bút thông linh mà thâu nhận, truyền dạy các đệ tử mà về sau là những tiền khai xây dựng nên.


  • Hiến Dâng / Đức Giáo Tông Vô Vi Đại Đạo

    NGỌC MINH ĐÀI, Tuất thời Rằm tháng Giêng Kỷ Dậu (3/3/69)

    GIÁO TÔNG ĐẠI ĐẠO THÁI BẠCH KIM TINH, Bần Đạo mừng chư hiền đệ hiền muội.

    THI :

    Thế loạn khuyên người rán định tâm,
    Huyền linh phép báu đã trao cầm;
    Gìn thân tế chúng cơn phong bão,
    Mới biết đạo mầu lý diệu thâm.


    Về phần Thanh Thiếu Niên, hãy trọn một ý chí tự nguyện hiến dâng trong số 12 thanh niên, 12 thiếu nữ tình nguyện để phục vụ chánh đạo hoằng dương chánh lý hầu nối tiếp con đường tạo thế nhơn hòa cho non sông an định, dân tộc thái bình. Phần tự nguyện nầy các trò hãy suy xét cho kỹ và cũng đừng sợ sệt gì cả, bởi đời người trước sau cũng phải tuần tự tiến đến, từ một đến kết quả của số định. Trong khoảng ấy, nếu các trò không muốn, hay hoặc muốn, cũng đặt mình vào một cương vị nào đó để tự lập đời mình, thì sự chọn lựa trên đường chân thiện mỹ sẽ là bảo đảm hơn trên các phương diện vi nhân xử thế.


  • Giới khẩu kinh / Thánh giáo Đức Vân Hương Thánh Mẫu

    GIỚI KHẨU KINH

    (Trích Minh Thiện Chơn Kinh-Ngọc Linh Thánh Tịnh "Phụng Lầu" ấn tống năm Kỷ Hợi 1959)

    * * *
    . . .Người dương thế thường hay lầm lỗi,

    Biết vì đâu nên nỗi sai ngoa;

    Cũng vì cái miệng nói ra,

    Những lời bất chánh mới gia tội tình.


Thầy dành cho trẻ một mùa xuân,
Đi lại trần gian xóa khổ trần,
Như lý Đạo mầu đang cứu cánh,
Cho đời thuần túy nét thanh tân.

Đức Chí Tôn, Ngọc Minh Đài, 29-12 Bính Ngọ, 08-02-1967

Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Nhịp Cầu Giáo Lý ngày một tốt hơn.


Hãy gửi góp ý của bạn tại đây