Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
"Hòa bình hay hiệp nhứt, Đức Thượng Đế đã ban cho mỗi con từ khi mới đến trần gian. Con hãy tìm đem ra mà sử dụng. Tâm con hòa bình, thế giới sẽ hòa bình, tâm con hiệp nhứt, tôn giáo sẽ hiệp nhứt. Các thứ ấy con không thể cầu ở tha lực tha nhân mà có đâu con !"
[Đức Diêu Trì Kim Mẫu,Thánh Thất Bình Hòa, Tý thời 14 rạng Rằm tháng 8 Canh Tuất (14-9-70)]
-
Có câu : "Vi nhơn nan đắc" , không phải dể được làm người. Thế nên kiếp người là quí. Lại có câu : "Đời người như hoa phù dung, sớm nở tối tàn", ý nói kiếp người ngắn ngủi.
-
Đa số chúng ta đã tìm hiểu các triết lý đông tây kim cổ để tìm ánh sáng cho cuộc đời, và cũng đã áp dụng những phương pháp tu tập khác nhau để giải khổ, song vẫn chưa an lạc, tự tại, chưa chắc chắn về con đường mình đang đi và vẫn còn mơ hồ về sự diệt khổ, chứng đắc, giải thoát, nhất là những gì bên kia cửa tử.
-
Làm người trên cõi thế là đã mặc nhiên thọ nhận sứ mạng làm người, thay Trời điều
hành cai quản thế giới nhân sinh. Thánh giáo Cao Đài dạy rõ:
“Làm sứ mạng vi nhân là giữ vai trò thực hành đạo Tài thành, bớt chỗ dư, bồi chỗ thiếu để làm cho cuộc sống nơi chốn hữu hình có đầy đủ tính chất chân thiện mỹ. Trí tuệ con người thừa hưởng từ khối óc siêu việt của Đức Thượng Đế là để khám phá, phát minh,, làm nên những công trình có ích, phục vụ cho cuộc sống hạnh phúc thế gian. Trời đã tạo sẵn nguồn nguyên liệu vô hạn từ hữu hình đến vô hình để con người hợp tác tìm kiếm, chế tác ra những sản phẩm vật chất cho chính con người thừa hưởng."
-
“Nhân bản có sáng chói, con người mới cảm thấy mình là con người.
Hãy tạo thế nhân hòa ! Hãy đưa con người trở về đời sống nhân bản. Mọi sinh hoạt hãy nhắm vào nhân bản, vào tình cảm thiêng liêng mà Thượng Đế Chí Tôn đã dành cho mỗi con người. “ ( Lê Đại Tiên Nam Thành Thánh Thất 31-3-1969 (14-02-Kỷ Dậu) [http://www.nhipcaugiaoly.com/post?id=689]
-
Vì "mới ra lò" sau năm 2000 nên tôi chắc là ít người đã biết đến SQ và SQ cũng đang còn ở trong thời kỳ phôi thai nên chúng ta chưa thực sự thấy rõ được cái tầm vóc và tương lai của SQ ra sao.
-
Đấng Tạo Hóa Toàn Tri Toàn Năng quyền uy tối thượng mà con người nghĩ rằng sẵn sàng ban phước hay giáng họa đã thực sự hiện hữu trong Kỳ ba phổ độ trong vai trò của một đấng Từ Phụ hết lòng thương yêu, chở che, đùm bọc con cái như một người cha ở cõi hữu hình.
-
Từ thuở hoang sơ của địa cầu, loài người đã trải qua nhiều nỗi hãi hùng do biến động của thiên nhiên đất trời, nên nảy sinh tín ngưỡng mộc mạc, tôn thờ những sức mạnh vô hình. Dần dần theo đà phát triển của sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng đa thần xuất hiện. Từ dó, nhiều hình thức, nhiều nghi tiết bày tỏ đức tin đã hình thành đa tạp tùy theo tâm thức hướng về thần linh của mỗi bộ lạc, mỗi sắc tộc. Kỳ thị, mâu thuẩn, chiến tranh cũng phát sinh từ đó.
-
HÌNH TƯỢNG ĐỨC QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT THIÊN THỦ THIÊN NHÃN và TAM KỲ PHỔ ĐỘ
Từ đại nguyện của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát đến những truyền tích về công hạnh và lòng kính ngưỡng quyền năng cứu độ của Ngài trong giới tu Phật cũng như trong dân gian nhiều nước, đã cảm ứng thành nghệ thuật điêu khắc những pho tượng Bồ Tát thiên thủ thiên nhãn.
Chiêm ngưỡng tượng Quan Thế Âm Bồ Tát ngàn tay ngàn mắt, người tín hữu Cao Đài không khỏi liên tưởng đến Đức Quan Thế Âm trong hàng Tam trấn oai nghiêm Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mà trên thiên bàn các Thánh thất đều có tượng thờ ngang hàng với Đại tiên Lý Thái Bạch và Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân.
-
Đỗ Thị Duyên, Thùy Nhiên, Đào Thiên Niên, Hương Lan
Bài viết này là một phần trong đề án nghiên cứu "Quyền pháp – tình thương và sự sống", nhằm trình bày yếu điểm giáo lý "Quyền Pháp" bằng một ngôn ngữ gần gũi hơn với xã hội, sao cho người đời có thể nhìn thấy được những ứng dụng thực tiễn của chủ đề giáo lý này trong đời sống hàng ngày.
Trong quyển Yếu Điểm Giáo Lý Đại Đạo, hai chữ "Quyền Pháp" được giải thích như sau: "Quyền là tình thương, Pháp là sự sống."[1] Còn trong Đạo Học Chỉ Nam, "Quyền là hình thức thể hiện trước đối tượng, Pháp là thể hiện trước bản thân"[2]. Mục đích của bài viết này là diễn dịch những định nghĩa như vậy bằng một cách thức đơn giản hơn, để xã hội dễ tiếp thu hơn.
[1] Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, Yếu Điểm Giáo Lý Đại Đạo, tr. 89.
[2] Đạo Học Chỉ Nam, chương 4, tiết 4, mục 1.
-
LỊCH SỬ THÁNH THẤT PARIS
Ghi lại lịch-sử thành-lập Thánh-Thất Cao-Đài Paris là để tưởng-nhớ đến những người tiền-phong đã không ngại khó-khăn, hy-sinh ngày giờ, công của quyết chí gầy-dựng cơ-sở đạo này. Tục-ngữ Việt-Nam có câu: ‘Ăn trái nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ người đào giếng’. Thực-hiện tài-liệu sử đạo này thiết nghĩ là một việc làm hửu-ích, một bổn-phận của đoàn hậu-tấn, để bày-tỏ lòng biết ơn đối với các bậc Đạo-Trưởng và các bậc đàn anh đã kiên-trì nuôi-dưỡng cơ Đạo từ hơn mười mấy năm qua. Sau đây chúng-tôi xin ghi lại lời tường-thuật của Đạo-Tỹ Diệu-Thê :
-
Đức Tin /
Người ta thường gọi đức tin là giác quan thứ sáu. Nhờ giác quan ta có thể nghe thấy, nếm, ngửi và biết được. Chúng ta có năm giác quan là thính giác, thị giác, khứu giác, vị giác và xúc giác. Nhờ tai để nghe, nhờ mắt để thấy, nhờ mũi để ngửi, nhờ lưỡi để nếm, nhờ tay để rờ nhưng nhờ đức tin là gián quan thứ sáu, chúng ta nghe được, thấy được, rờ được, nếm được và ngửi được những gì mà các giác quan không làm được. Như vậy, đức tin là một giác quan cáo quý hơn hết.
