Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Giáo Hội mừng lễ Chúa Ba Ngôi để giúp cho mọi người Kitô hữu thấy hình ảnh của một Thiên Chúa duy nhất : Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Sự duy nhất của Ba Ngôi Thiên Chúa nói lên tình yêu,bởi vì Thiên Chúa là Tình Yêu ( 1 Ga 4, 8 ). Đây là tín điều căn bản của đạo công giáo chúng ta. Tại sao Thiên Chúa lại có Ba Ngôi ? Ba Ngôi sao không là ba Chúa mà lại chỉ có một Chúa duy nhất mà thôi ? Đây là một điều dễ hiểu đối với những người có lòng tin và không dễ dàng chút nào đối với những người muốn dùng lý trí của mình để tìm hiểu về Chúa Ba Ngô
-
Tôi cũng có một ước mơ,
Mơ mọi người đều có một tấm lòng,
Để yêu thương,để sống thật chân tình;
Không hơn thua, không oán hận giựt giành,
Cùng cỡi mở cùng bao dung tha thứ . . .
-
Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ hay Cao Đài giáo ra đời từ năm 1925-1926, cho đến nay đã trải qua gần 2/3 thế kỷ, thời gian cũng gọi là dài so với đời sống con người, nhưng so với những tôn giáo khác, Cao Đài còn rất trẻ. Từ đó đến nay, không kể đến những thăng trầm của cơ Đạo, tôn giáo Cao Đài đã phải chịu rất nhiều sự chê bai, chỉ trích, ngộ nhận của đủ mọi giới trong xã hội không kể lương hay giáo. Nhưng theo thời gian, với con số từ 500 000 tín đồ sau vài năm Đạo khai, lên đến trên 1 triệu tín đồ vào năm 1937 và đến nay hơn 5 triệu, Cao Đài giáo đã tự khẳng định được vị thế của mình trong vai trò một tôn giáo với đầy đủ ý nghĩa và quyền pháp.
-
Hãy xem ta vốn là ai
• Những người tha thiết hằng ngày ước mơ,
• Thực hiện điều ấy bây giờ,
• Vì ta tin tưởng ước mơ sẽ thành
• Tất cả là Một quyết tâm,
-
Hỡi các con ! Hẳn các con có nghe câu : "Thiên Địa tuần hoàn, châu vi phục thỉ". Tuy lời nói đơn sơ nhưng đúng với lý thiên nhiên của Tạo hóa. Từ thuở tạo thiên lập địa, Bàn Cổ sơ khai, thì các con còn là bổn tánh chơn như chất phác hiền lương, sống lẫn lộn thú cầm, chỉ biết đói ăn khát uống. Vì đức háo sanh của THƯỢNG ĐẾ muốn các con vượt lên một mức để phân tách với thú cầm, nên cho các vị thánh đức lâm phàm cải tạo đời sống các con thành một giá trị trên vũ trụ và xây dựng cho các con một nền tảng nhân đạo vững chắc muôn đời vẫn còn sử dụng.
-
1. Đức Nhân Xã Hội Hóa
Đức Nhân là giá trị nhân bản muôn thuở của con người từ nghìn xưa đến nghìn sau.
Đức Nhân con người kỷ nguyên mới không phải chỉ là lòng trắc ẩn, lòng thương hai, là cái gì mình không muốn thì không làm cho người khác.
Đức Nhân thời đại này là Đức Nhân Xã Hội Hóa, là thiện chí cải thiện con người, cải thiện xã hội để mỗi người đều có thể sống xứng đáng với cương vị làm người của mình.
-
Này các con ! Tiết Xuân hòa dịu đã đến trần gian. Các con đều dừng bước để đón xuân, vui xuân và gác hết nỗi ưu tư nhọc nhằn trong năm cũ. Các con cũng nên ghi lại những gì xấu tốt, nên hư bĩ thới, thăng trầm trên quãng đường các con vừa đi qua.
-
Đức Quán Thế Âm Bồ Tát dạy tại Tây thành Thánh thất Cần Thơ vào lúcTý thời 12.3.Kỷ Dậu (28.4.1969)
-
“ Thầy mong con biết Thầy hiểu Đạo,
Cho thế gian cải tạo thanh bình;
Lòng Thầy thương cả chúng sanh,
Trong tình Tạo Hóa trong tình thiên nhiên.”
[Thiên Lý Đàn, Tuất 14 tháng Giêng Bính Ngũ (4.2.66)
-
Người tín đồ Cao Đài tin rằng các bậc Giáo Tổ từ Nhứt Kỳ đến Nhị Kỳ Phổ Độ đều là sứ giả của Đức Chí Tôn Thượng Đế. Vậy gốc của các Đạo trong hai thời kỳ đó vẫn là Đại Đạo.
Đến khi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ khai minh sau Nhị Kỳ trên 25 thế kỷ với tôn chỉ "Tam Giáo qui nguyên, Ngũ chi phục nhứt", nhân sanh thường nhận định đây là sự tổng hợp giáo lý Tam Giáo để lập thành một tôn giáo mới gọi là Đạo Cao Đài. Thậm chí trong buổi ban sơ đạo Cao Đài còn được tạm gọi là "Boudhisme renouvé", tức là " Phật Giáo canh tân".
Hiểu đơn giản như ý trước, đúng nhưng chưa đủ; nói theo cách sau là nói đại khái.
-
Thi văn Đức Bồ Tát trong Kinh Tam Nguơn Giác Thế
Nhựt hoành nhị thập kiến giai thì
Lục nhựt đạo thành hiệp nhứt chi
Thứ kỷ thương nhơn tâm bất tại
Nhị nhơn thê mộc diệc nguyên quy
-
Quyển kinh Đạo Nam do nhà xuất bản Lao Động xuất bản năm 2007.
Nguồn gốc: " Hưng thiện đàn" ở Nam Định miền Bắc Việt Nam do tiên thánh giáng bút, in ngay tại đàn bằng chữ Nôm trên giấy dó, ra đời vào tháng 9, tháng 10 năm 1923, được học giả Đào Duy Anh sưu tầm.
