Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
I. Định nghĩa Nhân văn: Nhân 人 là con người; Văn: 文 là văn vẻ; văn từ; cái dấu vết do đạo đức lễ nhạc giáo hóa mà có vẻ đẹp đẽ rõ rệt gọi là \"văn\", như văn minh, văn hóa . . . (Hanosoft Dictionary)
Tính nhân văn: phẩm chất tốt đẹp, đạo đức, sáng tạo của con người.
Tính nhân văn được thể hiện trong những lãnh vực như lịch sử, văn hóa, triết học, tâm lý học . . .
-
Thánh ngôn Đức Chí Tôn đêm Noel năm Ất Sửu 1925 :
"Đêm nay phải vui mừng vì là ngày Ta đã xuống trần dạy Đạo bên Thái Tây (Europe). Ta rất vui lòng mà đặng thấy đệ tử kính mến Ta như vậy. (…) Bấy lâu, Thầy vẫn tá danh AĂÂ là cốt để dìu dắt các con vào đường đạo đức, hầu chẳng bao lâu đây, các con phải ra giúp Thầy mà khai Đạo."
-
Năm 1967, cách nay 40 năm, Đức Lý Thái Bạch là Đấng Thiêng Liêng đầu tiên đã ban ân hướng dẫn cách biến đỗi một vé thơ tứ tuyệt (4 câu, mỗi câu đều có 7 chữ) thành vé thơ song thất lục bát. Tên của cách chuyển đỗi này được gọi là Chuyển Thi Bài.
Đây là hình thức từ 1 bài chuyển ra thêm 2 bài nữa thành tất cả là 3 bài.
-
Nói đến Trần Nhân Tông trước hết là nói đến người anh hùng cứu nước. Ông làm vua 14 năm (1279 - 1293). Trong thời gian ấy, đất nước Đại Việt đứng trước thử thách ghê gớm: hiểm họa xâm lược lần thứ 2 và thứ 3 của giặc Nguyên-Mông.
-
Le livre « THÁNH-NGÔN HIỆP-TUYỂN », son titre vietnamien, a inspiré à Sa Sainteté Hộ-Pháp Phạm Công Tắc l’appellation « Le Livre Céleste » (Bộ Thiên Thơ en vietnamien). Sa lecture permettra de comprendre dans les détails comment DIEU cette fois-ci, par le prête-nom Cao Dai, a fondé au Vietnam en 1926 la Religion qui se veut universelle pour sauver l’humanité entière, en raison de SON immense Amour. J’insiste que Cao Dai n’est simplement qu’un prête-nom de DIEU qui voudrait nous apprendre déjà, par SA façon de SE nommer, la modestie extrême jusqu’à l’oubli de soi ou l’extinction du moi. Par un dialogue direct, ce qui est très exceptionnel, et avec des mots simples mais profonds, DIEU s’est manifesté au moyen du Spiritisme pour nous enseigner le Dao en tant que Maître et Père à la fois.
-
Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, Hợi thời, 7 tháng 11 Bính Thìn
Bần Đạo chào mừng chư hiền đệ hiền muội.
THI
ĐÔNG chí tu trì phục nhất dương,
PHƯƠNG châm tu luyện bất lao thương;
CHƯỞNG trung thống lãnh cơ vi diệu,
QUẢN xuất kiền khôn độ thập phương.
Bần Đạo rất hoan hỉ đến với chư hiền trước giờ xuất tịnh để bổ khuyết một vài ý đạo trong đợt tu tập thể này và dạy thêm cho đợt tu kế tiếp.
Chư hiền đệ hiền muội ! Trong ba năm qua rồi thường có những khóa tịnh đặc biệt cho Minh Lý Thánh Hội và Cơ Quan tập thể luyện thần hòa hợp thiên điển để cứu vãn ách nạn chung cho đời, thật là hành động vô vi mà hữu ích. Chỉ có những hàng Thiên ân thuần chơn vô ngã mới dự được, thực hiện được, và thông suốt được. Cái biến của thế cuộc là động lực thúc đẩy con người phải thức tỉnh phải tiến bộ.
-
Trong Phúc âm, Thánh Mathiơ viết :
" Khi Đức Chúa Jesus đã sinh tại thành Belem, xứ Giu-đê, đang đời vau Hêrôđê, có mấy thầy thông thái ở Đông phương đến thành Giêsu sa lem mà hỏi rằng : Vua dân Giuđa mới sanh tại đâu ? Vì chúng ta đã thấy ngôi sao Ngài bên Đông phương, nên đến đây đặng thờ lạy Ngài". (Mt,2.1, 2)
-
Từ thế kỷ I, I I, ba nền tôn giáo Nho, Thích, Lão đã sớm được nhân dân Việt Nam tiếp nhận và dung nạp.
-
Ở nước ta, Nho giáo đã có lịch sử rất lâu đời. Từ khi nước ta bị xâm lược và sáp nhập vào Trung Quốc, từ đời Hán (206 trước Công nguyên đến 220 sau Công nguyên), Nho giáo đã được du nhập vào Việt Nam. Sĩ Nhiếp (thế kỷ thứ II sau công nguyên) đã được coi là An Nam học tổ, người mở đầu cho Nho học ở nước ta. Trong thời kỳ tự chủ, từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, Nho giáo cùng với Phật giáo và Đạo giáo có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần nước ta. Cuối thế kỷ XIV, Nho giáo giành được ưu thế so với Phật giáo, chi phối đời sống tinh thần nước ta.
-
Ngũ Chi Đại Đạo là Minh Sư, Minh Đường, Minh Lý, Minh Thiện và Minh Tân. Minh Sư có nguồn gốc từTrung Hoa, truyền qua Việt Nam vào năm 1863. Minh Đường có nguồn gốc từ Minh Sư.
Ba chi Minh Lý ([1]), Minh Thiện và Minh Tân được Ơn Trên chuẩn bịcó mặt ở miền Nam Việt Nam vài năm trước khi đạo Cao Đài ra đời để làm điều kiện yểm trợcho công cuộc khai mở Đại Đạo Tam KỳPhổ Độ.
Không kể Minh Lý, một sốthánh sở của bốn chi đạo Minh Sư, Minh Đường, Minh Thiện và Minh Tân đãquy hiệp Cao Đài và ngày nay vẫn còn.
Ngoài bốn chi nói trên, vào những ngày đầu khai Đạo, các đàn phổ độ của đạo Cao Đài thường lập tại tư gia hoặc mượn một sốchùa Phật như:
Hội Phước Tự, Trường Sanh Tự của Yết Ma • Luật (ở Cần Giuộc, Long An).
Long Thành Tự, Phước Linh Tự của Yết Ma • Nguyễn Văn Xoài (ở Cần Đước, Long An).
Vạn Phước Tự của Yết Ma Lê Văn Nhung (ở • Hốc Môn, Gia Định).
Phước Long Tự của Yết Ma Giống (ở Chợ• Đệm, Bình Chánh).
Thiền Lâm Tự (chùa Gò Kén) của Hòa Thượng • Như Nhãn (ở Long Thành, Tây Ninh).
-
Trong những kỳ lễ cúng Tứ Thời chúng ta đều có đọc kinh VÌ THIÊN ĐẾ do Đức Đạo Tổ dịch ra tiếng Việt Nam từ bài kinh XƯNG TỤNG CÔNG ĐỨC Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế viết bằng chữ Hán mà bên đạo Cao Đài đọc hằng ngày (Thái Cực Thánh Hoàng…). Nếu so sánh hai bài chữ Việt và chữ Hán, chúng ta thấy nghĩa lý hai bài giống y nhau. Tuy nhiên, bài chữ Việt có dư ra hai câu chót :
"Chi hơn an mạng thuận thời,
Vun trồng cây đức, lẽ đời vậy vay."
Cúng lâu ngày, đọc kinh thường xuyên, hai câu chót này đập mạnh vào tâm trí chúng ta. Chúng ta hãy đi sâu phân tích hai câu này, giải mã nó để tìm hiểu thêm ý nghĩa lời dạy của Đức Đạo Tổ gởi cho Minh Lý môn sanh chúng ta.
-
Các núi linh thiêng của Trung Quốc được chia thành hai nhóm gắn liền chủ yếu với Lão giáo và Phật giáo. Nhóm chủ yếu gắn liền với Lão giáo được biết đến với tên gọi chung như Ngũ đại danh sơn (Ngũ Nhạc, Ngũ linh sơn v.v.), trong khi nhóm chủ yếu gắn liền với Phật giáo được nói đến như là Tứ đại danh sơn (Tứ đại Phật sơn v.v).
