Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Khai Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn phán rằng :
"Thầy sắp cuộc dinh hoàn tái tạo,
Dụng huyền linh Đại Đạo vận hành."
Hai chữ "dinh hoàn" ám chỉ cuộc tuần hoàn của vũ trụ theo luật doanh hư tiêu trưởng : quá trình phát triển của vạn sự vạn vật không cố định ở một mức độ mà theo chu kỳ như thủy triều đầy vơi, như trăng khuyết lại tròn, như đời người hết bỉ đến thái.
-
Thứ Bảy, 27/01/2007, 15:32 (GMT+7)
Bình dị cho đến sau khi chết
TTCT - Nếu có một chốn vĩnh hằng của những con người thiện tâm, thì linh mục Pierre nhất định đã có chỗ bởi chứng tỏ tình yêu tha nhân của ông là vô biên và không "son phấn".
-
Tại Thảo Lư: Thánh Đức Tổ Đình. Cao Đài Đại Đạo Chiếu Minh Tam Thanh Vô vi
Ngày 15/10 Mậu Tý, nhằm ngày 11/11/2008 Ban Quản Lý Thánh Đức Tổ Đình cử hành lễ an vị Pho Tượng Đức Thầy Trở lại thời gian từ ngày 13/3 năm 1932 Đức Tôn Sư Ngô Minh Chiêu qui liễu đến nay tròn 77 năm.
Cũng tại nơi đây Bổn đạo Cao Đài, cử hành tang lễ kim thân đức thầy nhập tháp tại Chiếu Minh Nghĩa Địa. Kể từ đó đến nay 76 năm chưa có đúc tượng chân dung để an vị.
- Vì lúc xưa nơi Thảo Lư chỉ làm bằng cây lợp lá đơn sơ để Đức Thầy tạm nghĩ dưỡng bệnh, lúc bấy giờ Đức thầy dạy dùng viết ghi trên vãi để chép những bài thánh giáo giữ y qui cũ khai Đạo kỳ ba do Đức Thầy truyền dạy trong thế kỹ 20.
- Chính nơi Thảo Lư Đức Thầy đã ra đi về Tân An và Qui tiên sau khi qua phà Cần Thơ và giữa dòng sông Cửu Long phà Mỹ Thuận. Qua thiên lệnh của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế:
"Giờ này thầy điểm thâm công
Ngày sau, con sẽ cởi rồng về nguyên "
-
THI
Đạo tâm tại hề Phật tại tâm,
Vọng cầu bôn ngoại thị hôn trầm,
Nhơn nhơn tự hữu Như Lai tánh,
Tánh đắc Như Lai pháp diệu thâm.
Vạn Hạnh Thiền Sư, khánh hỉ, khánh hỉ chư Thiên ân sứ mạng, chư đạo tâm đạo hữu.
-
Chánh niệm có thể chuyển hóa tất cả các mối quan hệ cá nhân. Khi né tránh sự đau khổ, có nghĩa là chúng ta ruồng bỏ những người thân cũng như chính chúng ta. Nhưng khi nhìn vào bất cứ những điều gì nảy sinh bên trong chúng ta một cách chánh niệm và từ ái là chúng ta có thể hiện diện một cách đích thực và sống động với chính mình và với người khác.
-
Đức Vô Cực Từ Tôn:
"Kìa con ! Đời đang loạn lạc, người người mong vọng hòa bình, tôn giáo đang chia rẽ, tín đồ đạo hữu mong vọng điều hiệp nhứt, mà hòa bình do nơi đâu hỡi con ? Hòa bình hay hiệp nhứt, Đức Thượng Đế đã ban cho mỗi con từ khi mới đến trần gian. Con hãy tìm đem ra mà sử dụng. Tâm con hòa bình, thế giới sẽ hòa bình, tâm con hiệp nhứt, tôn giáo sẽ hiệp nhứt. Các thứ ấy con không thể cầu ở tha lực tha nhân mà có đâu con ![1]
[1]Thánh Thất Bình Hòa, 14 rạng Rằm tháng 8 Canh Tuất (14-9-70)
-
Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN LÝ
Sự khảo sát các mối tương đồng tương quan giữa các phạm trù THIÊN ĐỊA, VẠN VẬT và CON NGƯỜI đã làm nổi bật kết đề NHẤT THỂ của nguyên lý.
Đó là niềm xác tín vũ trụ vạn vật nhất thể. Nhất thể về bản chất, nhất thể về năng lực chuyển hóa, phát sinh, nhất thể trong quy luật dịch biến không ngừng. Bởi thế mà nhất thể trong vạn thù, trong vĩnh cửu và trong không gian vô định.
NHẤT THỂ, đó là TUYỆT ĐỐI THỂ
Thế nên nguyên lý đã quy chiếu vũ trụ vạn vật về Thượng Đế và kết luận khả năng tiến hóa của vạn vật, nhất là khả năng hiệp nhứt của Con Người với Thượng Đế.
Với nguyên lý này, giáo lý Đại Đạo nhắc nhở tình thương yêu ruột thịt giữa nhân loại, và của nhân loại đối với vạn vật chúng sanh.
Nguyên lý còn cho con người niềm hy vọng vô biên ở tương lai cao đẹp của mình. Đức Chí Tôn mở Đạo kỳ ba đã trao cho loài người một phán định và là một tin mừng:
" Thầy là các con, các con là Thầy."
Những ai đã có đức tin nơi Thượng Đế, hãy có đức tin mạnh mẽ nơi chính mình, sẽ đi đến tận cùng con đường chánh đạo, tiến hóa trở về Bản Nguyên Nhứt Thể, bất sanh bất diệt.
* * *
-
Trong lịch sử nhân loại, từ mấy ngàn năm, do nhu cầu tâm linh của con người, các tôn giáo đã lần lượt được các Giáo chủ sáng lập, truyền bá rộng rãi trên thế giới. Nhưng với bản sắc của nguồn gốc địa phương, bản sắc văn hóa của từng dân tộc, nền giáo lý và các nghi thức đặc thù, giữa các tôn giáo có nhiều dị biệt, khiến cho tín đồ của tôn giáo này không thông cảm, thậm chí không chấp nhận các tôn giáo khác. Tệ hại hơn nữa, kỳ thị lẫn nhau, dẫn đến tranh chấp hay chiến tranh tôn giáo.
-
Thời kỳ mạt pháp là thời kỳ được bắt đầu từ sau khi đức Phật nhập niết bàn 1500 năm, được khái lược trong ba điều trọng yếu: Có giáo lý, không hành trì, không quả chứng.
Chư Tổ sư giảng về điều này như sau: Thời mạt pháp chẳng phải là không có người hành trì. Song kẻ hành trì đúng theo giáo lý rất ít, hầu như không có, nên mới gọi là không hành trì. Mà bởi hành trì không đúng nên không có người chứng đạo. Bởi thế nên chư Tổ thường than: “Người học đạo nhiều như lông Trâu, người đắc đạo như sừng Thỏ.”
-
Sách được chia làm ba phần lần lượt trình bày về ba nền tôn giáo lớn : Nho giáo, Thích giáo, và Lão giáo. Trong mỗi phần, đạo trưởng Huệ Lương đã trình bày sơ lược về thân thế, công nghiệp, đạo nghiệp của các vị giáo chủ như đức Khổng Tử, đức Thích Ca Mâu Ni, đức Lão Tử.
-
Tôn giáo cổ kim trên hoàn cầu luôn luôn tự nhận vai trò bảo tồn nhân loại tức là cứu thế vậy. Nhưng muốn làm được, làm đúng vai trò lịch sử của mình, tôn giáo phải vận chuyển, biến chuyển tương ứng với biến dịch của nhân sinh.
-
Huờn Cung Đàn Tý thời mùng 8 tháng 4 Tân Sửu (21.05.1961)
(Lễ Phật Đản )
THI
HỒI tâm tu niệm hưởng ơn Thiên,
GIÁC thế lánh xa nẻo lụy phiền;
CHƠN mạng nhiệm mầu lo trọn vẹn,
TIÊN cơ học hỏi đến non tiên.
CHƠN-TIÊN chào mừng chư huynh tỷ Thiên mạng đàn trung. Giờ nầy CHƠN TIÊN lai đàn báo tin ĐỨC THÍCH CA ngự bút. Vậy Chư Thiên mạng
khá thành tâm tiếp nghinh, CHƠN-TIÊN hộ đàn, lui.
