Thống Kê Newsletter
Lần đầu đến với Nhịp Cầu Giáo Lý?

Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.

 
Có thể bạn chưa xem qua
  • Lược sử Chiếu Minh / Phan Lương Minh

    Đầu năm Bính Dần 1926, Đức Ngô Minh Chiêu  trao thánh lịnh cho ngài Hồ Vinh Qui  đem đàn cơ xuống Cần Thơ mở Đạo. Ông Hồ Vinh Qui tự Trọng Quí, Thiên ân pháp danh (nay thường gọi là Thánh danh) :  Từ Huệ,  là cựu thông phán. Vừa đến Cần Thơ ông gặp ngay cụ Nguyễn Như Bích. Vốn  từng quen  cầu cơ từ thuở còn  ở Hà Tiên, nên cụ Bích sẵn  lòng tiếp ông Phán Quí lập đàn cơ tại nhà mình. Song vì thân phụ cụ Bích  là cụ Nguyễn Thần  Hiến  là một chí sĩ  của phong trào Đông Du  vào  những năm đầu thế kỷ,  nay lập đàn có nhiều người tới lui đông đảo, e rằng Pháp để ý, ông Phán Quí phải dời đàn cơ đến  nhà một gia đình mới quen qua các buổi càu đàn  - ông  bà Nguyễn Văn Huỳnh. Khi ngày lành tháng tốt, cứ năm ba người tụ nhau lại nơi các nhà Đàn, cầu Thần Tiên cho kinh kệ rồi dạy lần ra cho nhau.  Trong thời gian ngắn có hàng trăm người theo Đạo. Từ đó mở thêm đàn  tại gia Ông Nguyễn Thiện Niệm, ông Tám Tỵ. 


  • Bài Thuyết đạo tại Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo


    ngày 19-6-Đinh Hợi (01-8-2007)


    ________


    [Ảnh bên: Tượng Quan Thế Âm Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn tại Linh Sơn Cổ Tự, đường Cô Giang, Q1, TP.HCM-Dưới tựong có xưng danh hiệu Ngài: "Nam Mô Đại Từ Đại Bi Thị Hiện Thiên Thủ Thiên Nhãn Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát"]


    * * *

    Hôm nay là 19 tháng 6 âm lịch, kỷ niệm  ngày thành đạo của đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Quan Thế Âm Bồ Tát rất gần gủi với đời sống tâm linh của các dân tộc Châu Á nói chung như Ấn Độ, Tiểu Á, Tây Tạng, Trung Quốc, Triều Tiên,  Nhật Bản, Kampuchia…Riêng Việt Nam đã biết đến oai lực của Ngài từ thuở bình minh của dân tộc. Ngài là một vị Bồ Tát đã đắc quả từ lâu nhưng không nhập Niết Bàn, vẫn qua lại nơi cỏi ta bà để cứu độ chúng sanh vơi 12 lời đại nguyện


  • Tam giáo Việt Nam đã có một lịch sử lâu dài, kể từ thế kỷ I, II trở đi, cho nên dễ hiểu vì sao Tam giáo đã có ảnh hưởng sâu sắc không phải chỉ trong tầng lớp trí thức giỏi chữ Hán mà còn gieo được tư tưởng đạo đức trong quần chúng bình dân không biết chữ Hán. Văn học dân gian (hay văn chương truyền khẩu) qua các loại hình cổ tích, dân ca, ca dao, tục ngữ... là những bằng chứng rõ ràng cho thấy dấu ấn Tam giáo trong văn hóa đạo đức của dân tộc Việt. Các vị tiên, phật luôn luôn có mặt trong các câu chuyện cổ tích khuyến thiện để giáo dục con người tu nhân tích đức, làm lành lánh dữ.


  • Sứ mạng phục hồi bản thể / Đức Bát Nhã Thiền Sư

    "Dầu tôn giáo nào cũng đều giáo dân vi thiện, đều áp dụng giới luật quy điều, trì tâm tu kỷ. Tuy trên hình thức có vẻ đặc biệt, nhưng suy kỹ thì đó là nếp sống của con người hiền thánh, tiên phật. Bởi vì thế gian là cõi tạm; mọi cái hữu hình được hiện bày trên thế gian do vạn vật hóa sanh theo đức háo sanh của Tạo Hóa. Tất cả những hình tướng vạn hữu đều do cơ vi luân động của Đạo mầu mà luân chuyển trường tồn, sanh sanh hóa hóa. Những hình thái biến hiện muôn màu, những hương thơm tho, những ánh sáng chan hòa đẹp đẽ làm cho tâm hồn nhơn loại ưa thích mến chuộng, theo đuổi và say sưa đến nỗi quên mất tánh lành vốn cũ, chất phác hồn nhiên, gây nhiều tội nghiệp trái oan, để tiến mãi trong vòng thiên luân vô định.


  • Đức Ngô Minh Chiêu là vị đệ tử đầu tiên của Đức Cao Đài Thượng Đế; đứng đầu một nhánh Đạo của Cao Đài giáo: Nội giáo Tâm truyền, chuyên lo tịnh luyện tu đơn (còn gọi là Chiếu Minh), Ngài đã đắc Đạo vào hàng Đại Tiên, để lại nhiều sự kính mến và ngưỡng vọng. Các Hội Thánh nhánh Phổ độ, nhiều nơi cũng thờ Ngài trên Thiên Bàn.
    Bài viết này nhằm khắc họa lại vài nét về con người, về nhân cách sống của Ngài Ngô khi còn sanh tiền, kể cả thời gian Ngài chưa biết Đạo. Nói theo giáo lý Cao Đài đó là phần Nhơn đạo của Ngài; chủ ý cho thấy Ngài Ngô cũng sinh ra và lớn lên như một con người bình thường, và cuối cùng Ngài trở thành một nhân vật phi thường.


  • Động tác tuần huờn Tạo Hóa cơ,

    Băng tiêu noãn nhựt định thiên thơ,

    Cao Đài xuất thế khai tân hội,

    Tận độ quần linh phục thái sơ.


  • Theo giáo lý Cao Đài, cũng như của nhiều tôn giáo khác, lịch sử nhân loại đang trải qua thời kỳ sau cùng của một đại chu kỳ từ thượng nguơn, trung nguơn đến hạ nguơn. Và thời hạ nguơn này là thời mạt kiếp để rồi chuyển sang chu kỳ mới, gọi là tái tạo dinh hoàn, lập lại trời mới đất mới hay thượng nguơn thánh đức. Đó là quy luật tiến hóa của vũ trụ. Không thể chỉ có sinh mà không có diệt, không chỉ có diệt mà không có sinh; sinh diệt, diệt sinh nối tiếp nhau vũ trụ mới vừa trường cửu vừa tiến hóa. Ví như trong thiên nhiên: "Cánh hoa mai vừa hé nụ, từng loạt lá đã rụng rơi, rồi hoa lại úa tàn, nhụy hoa tan tác, để dành phần cho quả hạt tạo thành." (Đức Vạn Hạnh Thiền Sư, TGST 1970-1971, tr. 54.)


  • THÁNH THI SÁNG TẠO CA NGỢI THƯƠNG ĐẾ / Groupe des Adoratuers de College Épiscopal

    1) Trươc các tầng trời Ngài rạng rỡ uy nghi,
    Rộng lớn vô cùng và tế vi khôn tả
    Kìa, áo khoác ngàn sao muôn đời không đổi
    Và cùng Thái dương, tôi ca ngợi vang lừng


  • Nét sử khen ai / Đức Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn

    Vĩnh Nguyên Tự
    Ngọ thời, 03-12 Tân Hợi (18-01-1972)


  • Tất cả vũ trụ vạn hữu là một trường dịch hóa miên miên bất tuyệt, sinh động vô cùng. Nên Dịch, Hệ Từ, có câu: "Sinh sinh chi vị dịch". Nếu nói sanh ra rồi chết, chết rồi lại sanh thì con người có thấy nghĩa lý gì, thú vị gì mà còn có gì hữu ích chăng ?


  • Yên lặng / Mẫu Đơn

    "Cũng như đã thấy và đã hiểu, Thượng Đế có nói ra một lời nào đâu (Thiên hà ngôn tai!) nhưng đã điều hành càn khôn vũ trụ, nhựt nguyệt tinh tú vận chuyển lưu hành theo nhứt luật thứ lớp tuần tự, trên cai quản ba mươi sáu cõi Trời, ba ngàn thế giới; dưới điều động bảy mươi hai quả địa cầu và bốn bộ châu lớn" (Nhược thiệt nhược hư, bất ngôn nhi mặc tuyên đại hóa, thị không thị sắc, vô vi nhi dịch sử quần linh – Kinh Xưng tụng Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế).


  • Chúng ta sống trong cõi nhị nguyên đầy khổ đau nhân quả nhưng cùng lúc chúng ta cũng sống trong tình thương của quá nhiều người dành cho ta. Vậy, chúng ta phải vì đời mà đem tình thương gieo rải khắp nhơn sanh. Có như thế thì quảng đời còn lại của chúng ta mới thật sự có ý nghĩa, bởi vì Đức Mẹ đã khẳng định:

    Có thương con mới dày công quả,
    Công quả là đường đến Ngọc Kinh.


Thầy dành cho trẻ một mùa xuân,
Đi lại trần gian xóa khổ trần,
Như lý Đạo mầu đang cứu cánh,
Cho đời thuần túy nét thanh tân.

Đức Chí Tôn, Ngọc Minh Đài, 29-12 Bính Ngọ, 08-02-1967

Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Nhịp Cầu Giáo Lý ngày một tốt hơn.


Hãy gửi góp ý của bạn tại đây