Thống Kê Newsletter
Lần đầu đến với Nhịp Cầu Giáo Lý?

Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.

 
Có thể bạn chưa xem qua
  • Sài gòn : Một trung tâm thần lực / Hà Văn Phủ & Nguyễn Văn Tài

    Hiện nay Thành phố có 860 chùa, 120 tịnh xá và tịnh thất của Phật Giáo. Trong đó chùa Giác Lâm cổ nhất, được khởi công xây vào năm 1744. Công Giáo có 194 giáo xứ với 270 nhà thờ và 64 nhà tu dòng. Nhà thờ Chợ Quán được khởi công xây dựng từ năm 1727. Tin Lành có 45 nhà thờ. Hồi Giáo có 15 thánh đường.

    Vào giữa thập niên 20 thế kỷ 20, Sài Gòn đã là điểm tựa để gầy dựng mầm mống ban đầu của đạo Cao Đài. Thoạt tiên, tiền bối Ngô Văn Chiêu từ đảo Phú Quốc về làm việc và tu thiền tại Sài Gòn (tháng 7-1924). Bấy giờ tiền bối đã thọ tâm pháp Cao Đài và là vị môn đồ đầu tiên của Đức Cao Đài Tiên Ông.


  • Trong đời sống xã hội, gia đình nào cũng kỳ vọng vào con cái. Cha mẹ thể hiện trách nhiệm qua việc chăm lo từ miếng ăn cái mặc, phương tiện vui chơi đi lại, học hành. Với những bậc phụ huynh đã từng trải trong đời, thấy rõ giá trị của việc học cho tương lai. Từ đó, cha mẹ dầu khổ cực cách mấy cũng ráng đầu tư tối đa vào việc học hành chữ nghĩa và nghề nghiệp cho con em.

    Nhưng quả thật ít có gia đình, ngoài hai phần vừa kể trên, cha mẹ lại có thêm sự quan tâm đầu tư đúng mức về tinh thần và tâm linh cho con cháu. Nhân sinh đã như thế, đạo hữu cũng chưa có mấy người thoát được ra ngoài lối mòn thói quen suy nghĩ thông thường đó của con người trong đời sống.


  • Lịch sử đạo Cao Đài cho thấy đức tin Cao Đài, từ lúc chưa có đến lúc lập thành vững chắc nơi những người môn đệ đầu tiên là cả một biến chuyển kỳ diệu và trọng đại trong một thời gian ngắn ngủi để khai minh Đại Đạo.

    Giai đoạn lịch sử ấy, trước hết xác minh sự hiện hữu của vũ trụ tâm linh. Nói đúng hơn, xác minh vũ trụ là một Càn Khôn thống nhất, một tổng thể của sự sống hữu hình lẫn vô hình.


  • Đạo lý chính là sự bình đẳng giữa người và người, giữa dân tộc nầy với dân tộc khác. Nên các bậc giáo tổ, thánh nhân lập đạo đều nhắm mục đích dạy nguời đời thực hiện đạo lý ấy. Đó là Bình đẳng quan của Phật, Tề vật luận của Lão Trang, Trung đạo của Nho, mà thời Tam Kỳ Phổ độ nầy Cao Đài dung hợp trong đường lối "Đại đồng công dụng".


  • “Có cái có trong tình tạo hóa,
    Không là không đạo cả lưu hành,
    Biết đường sanh diệt, diệt sanh;
    Hoàn nguyên phản bổn, nhọc nhành chi con ?”
    (Đức Diêu Trì Kim Mẫu)


  • Lược sử Chiếu Minh / Phan Lương Minh

    Đầu năm Bính Dần 1926, Đức Ngô Minh Chiêu  trao thánh lịnh cho ngài Hồ Vinh Qui  đem đàn cơ xuống Cần Thơ mở Đạo. Ông Hồ Vinh Qui tự Trọng Quí, Thiên ân pháp danh (nay thường gọi là Thánh danh) :  Từ Huệ,  là cựu thông phán. Vừa đến Cần Thơ ông gặp ngay cụ Nguyễn Như Bích. Vốn  từng quen  cầu cơ từ thuở còn  ở Hà Tiên, nên cụ Bích sẵn  lòng tiếp ông Phán Quí lập đàn cơ tại nhà mình. Song vì thân phụ cụ Bích  là cụ Nguyễn Thần  Hiến  là một chí sĩ  của phong trào Đông Du  vào  những năm đầu thế kỷ,  nay lập đàn có nhiều người tới lui đông đảo, e rằng Pháp để ý, ông Phán Quí phải dời đàn cơ đến  nhà một gia đình mới quen qua các buổi càu đàn  - ông  bà Nguyễn Văn Huỳnh. Khi ngày lành tháng tốt, cứ năm ba người tụ nhau lại nơi các nhà Đàn, cầu Thần Tiên cho kinh kệ rồi dạy lần ra cho nhau.  Trong thời gian ngắn có hàng trăm người theo Đạo. Từ đó mở thêm đàn  tại gia Ông Nguyễn Thiện Niệm, ông Tám Tỵ. 


  • NIỀM VUI CAO ĐÀI / Thiện Quang

    Sáng 28-09-2013, Tu viện Phănxicô Đakao đã tổ chức một buổi gặp gỡ, hội thảo và chia sẻ liên tôn giáo nhân mùa kỷ niệm Ngày Về Trời của Thánh Phănxicô Atxidi (tiếng Ý: San Francesco d'Assisi). Theo tinh thần sống hòa bình và vui tươi của Thánh Phănxicô, cũng như theo chủ trương đối thoại liên tôn giáo của Ngài, buổi hội thảo đã diễn ra quanh chủ đề “Quan niệm NIỀM VUI theo Phật giáo, Cao Đài và Công giáo”. Dưới đây là bài tham luận hội thảo của Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo.


  • Sống tự nhiên / Thiện Chí

    Sống tự nhiên không phải sống xa rời xã hội nhân lọai; không chỉ uống nước lã, thở khí trời để sống. Mà sống đạo trong đời, trong cung cách tự do tự chủ, ích nhơn lợi vật.


  • Này chư hiền đệ muội ! Thiền là tâm vô niệm. Định là dừng lại tất cả. Chỗ công phu này đòi hỏi hành giả phải ngày ngày tu tập để đến khi cần hòa hợp cùng vận khí cơ thiên, mới có đủ tinh thần mà phóng điển lực trong cuộc điều hành vận chuyển, từ nhơn thân đến vũ trụ. Nếu công phu còn hời hợt non kém, nhân thể còn bị bốn mùa tám tiết đổi thay, đời sống vật chất lại chi phối rất nhiều làm tinh thần mờ mịt, nên vào thiền, tâm chưa dứt niệm, thân thể nặng nề, tê nhức, ngứa ngáy đủ điều, định chưa được nên bị hôn trầm ngủ gà ngủ gật, ngồi lưng chưa thẳng nên tâm hỏa không thông, đầu cúi quá tầm thân cong nên thổi phù chưa suốt. Đó là bịnh chung của hành giả, nên chi công phu còn non kém, cần có tịnh đường kín đáo để tránh hàn khí tà độc nhiễm vào sanh bịnh.


  • 1. Nghiên cứu việc các tín ngưỡng hay tôn giáo chọn CON MẮT để thờ thần, người ta không khỏi ngạc nhiên từ thời Cổ Ai Cập (Predynastic Ancient Egypte 5.000-4.000BC) người Ai Cập xưa từng chọn con mắt làm biểu tượng thờ thần Horus. Thần Horus, theo tôn giáo Cổ Ai Cập là thần của cõi trời (sky god) có quyền năng bảo hộ (protection) và về chiến tranh (being the god of the sun, war and protection) . Đặc biệt, người Ai Cập cho rằng 2 con mắt của thần Horus thuộc về mặt trời (mắt phải) và mặt trăng (mắt trái). Họ đồng hóa mắt phải của Horus với thần mặt trời, thần Ra; và mắt trái với mặt trăng, thần Thoth . Hình tượng Horus trong các đền thờ là một nhân hình có đầu là đầu chim ưng (falcon). Do vậy, 2 con mắt của chim ưng làm tiêu biểu cho mắt thần Horus. Với xác tín này, một con mắt duy nhất đã đươc thiết kế làm biểu tượng chính cho thần Horus, nói lên đầy đủ quyền năng của vị thần là thần lâu đời nhất giữa các thần khác và là “quốc thần”


  • Chân truyền giáo huấn về con đường Tu cứu độ cửu huyền thất tổ được tóm lược qua lời của Đức Quán Thế Âm: "Phương độ rỗi chắc chắn hơn hết là người sanh tiền phải luôn luôn thành tâm cầu nguyện và giữ vững đức tin, bồi bổ thêm công đức. (…) Chưthiện tín khá lưu tâm mà giữ tròn âm đức nhe."


  • Các Thánh Triết ở Ấn Độ và Trung Hoa, cũng như Do Thái, La Mã, Hy Lạp đều nhận bản thể của vũ trụ là tự tánh hằng hữu, tồn tại bất biến. Tự tánh đó là nguồn sống vô biên, tràn ngập, trở nên thiên sai vạn biệt, muôn hình ngàn trạng. Bản nguyên tự thể đó là tự do, ngoài không gian và thời gian, im lặng, không bị một vật nào câu thúc. Chỉ có đồng nhứt với tự thể đó mới có tự do, mới không còn bị vũ trụ ảo hóa, phỉnh phờ, ám ảnh được.














    Học đạo để nên người thánh thiện,
    Tu hành cần rèn luyện thân tâm,
    Có thân, thân chớ đọa trầm,
    Có tâm, tâm chớ lạc lầm phàm phu.

    Đức Đông Phương Lão Tổ, CQPTGL, 04-6 tân Dậu

    Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Nhịp Cầu Giáo Lý ngày một tốt hơn.


    Hãy gửi góp ý của bạn tại đây