Thống Kê Newsletter
Lần đầu đến với Nhịp Cầu Giáo Lý?

Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.

 
Có thể bạn chưa xem qua
  • Sống tự nhiên / Nhịp cầu giáo lý

    Sống tự nhiên không phải sống xa rời xã hội nhân lọai; không chỉ uống nước lã, thở khí trời để sống. Mà sống đạo trong đời, trong cung cách tự do tự chủ, ích nhơn lợi vật.


  • CAO thượng bổn nguyên Đạo chí thành ,
    ĐÀI tiền chực rước đám lương sanh.
    GIÁO minh chơn lý truyền tâm pháp ,
    CHỦ ý vào lòng ráng luyện phanh .
    THẦY mừng các con. THẦY miễn lễ các con.a
    (ĐTCG, 25 tháng 9 Bính Tý, 1936, CHỈ Ý THUYẾT MINH )


  • Thánh thất Cầu Kho / Trích Lịch sử đạo Cao Đài I - CQPTGLĐĐ.

    Thánh thất Cầu Kho là một trong những Thánh thất đầu tiên cơ Phổ độ Công truyền (đầu năm 1926), lập tại ngôi nhà ngói ba gian, cột gỗ vách ván của Ngài Đoàn Văn Bản, số 42 đường Général Leman (cuộc đất số 102 Trần đình Xu hiện nay, góc đường Cao Bá Nhạ). Trước đó, năm 1925, Ngài Đoàn Văn Bản đã thờ Đức Cao Đài theo sự hướng dẫn của Ngài Ngô Minh Chiêu.


  • NỮ GIỚI VỚI NỮ HẠNH

    A. Nữ phái đồng sứ mạng với nam phái.

    Đức Quan Âm Bồ Tát dạy : "Hỡi chư hiền muội ! Kìa hãy nhìn xem trong vũ trụ : Trời thì có âm dương, người có nam có nữ, loài thượng cầm có trống có mái, loài hạ thú có đực có cái.

    Xét theo lý đạo không giới nào là trọng, giới nào là khinh. Mỗi mỗi đều có sứ mạng phối ngẫu hoá sinh trưởng dưỡng và bảo tồn cơ vận hành cùng lòng háo sanh của Tạo Vật."[1]

    [1] [GHTT,Thánh Tịnh An Tiên, 2.2 Đinh Mùi]


  • CUNG TÝ là cung khởi đầu, cho nên trong Dịch Học phân ra ngôi TAM TÀI như sau : THIÊN (Trời)Sanh ư TÝ, ĐỊA (Đất) Tịch ư SỮU, NHÂN (Con người) Sanh ư DÂN . Theo qui ước trên bàn tay trái thì Cung Tý nằm ở đót đầu tiên(Gốc) ngón áp út; Từ đó đếm thuận chiều kim đồng hồ, mổi đót là một cung, như vậy :Cung Sữu nằm ở gốc ngón giữa, Cung Dần nằm ở gốc ngón trỏ, cũng từ ngón trỏ tính ngược lên ,mổi đót là một cung, đến đầu ngón trỏ là cung Tỵ, thuận chiều kim đồng hồ dến đầu ngón út và đếm xuống đến gốc ngón út là Cung Hợi, giáp một vòng là 12 cung .


  • Tân Ước / Wikipedia EncyclopediaTiếng Việt

    Tân Ước, còn gọi là Tân Ước Hi văn hoặc Kinh thánh Hi văn, là một phần của Kinh Thánh Cơ Đốc giáo, được viết sau khi Chúa Giê-xu sinh ra. Được dịch từ tiếng Latinh Novum Testamentum, nguyên ngữ Hi văn Kainē Diathēkē (Καινή Διαθήκη), nghĩa là "Giao ước mới". Thuật ngữ "Tân Ước" lúc đầu được tín hữu Cơ Đốc dùng để miêu tả mối tương giao giữa họ và Thiên Chúa, về sau được dùng để chỉ một tuyển tập gồm 27 sách.


  • Biến Hoá kinh, viết vào khoảng năm 612 sau CN (thời Tùy Dạng Đế) cho rằng Lão Tử chẳng những có từ muôn thuở, mà Ngài chính là Thượng Đế. Ngài đã giáng trần nhiều lần, để cứu độ muôn dân.

    Khảo thư tịch đạo Lão, ta thấy dân gian tin rằng đức Lão Tử là một trong 3 ngôi Ngọc Hoàng Thượng Đế. Ba ngôi đó là:

    - Nguyên Thủy Thiên tôn, hay Thiên Bảo quân hay Ngọc Hoàng ở cung Ngọc Thanh.

    - Linh Bảo Thiên tôn, hay Linh Bảo quân ở cung Thượng Thanh.

    - Thần Bảo Thiên tôn, hay Lý Lão Quân hay Lão Tử ở cung Thái Thanh.


  • CHƯƠNG THỨ BA

    NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẠI ĐẠO TKPĐ
    ĐỨC TIN NGƯỜI CAO ĐÀ
    IIII.THIÊN NHÃN
    THƯỢNG ĐẾ HIỆN HŨUIVTHẦY LÀ BẢN THỂ CỦA CHÚNG SANH
    ĐỨC TIN CỦA NGƯỜI TÍN ĐỒ CAO ĐÀI TRONG
    SINH HOẠT TÔN GIÁO
    VIII.TIỀM LỰC SÂU THẲM
    VII . TỰ THẮP SÁNG HIỆN HỮU


  • Đạo Phật / Sưu tầm

    Đạo Phật, hay Phật giáo, là một tôn giáo và triết lý do Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) khởi xướng, ông sinh trưởng ở miền bắc Ấn Độ vào thế kỷ 6 trước công lịch. Số người theo đạo này rất đông, nhất là các vùng châu Á...


  • Đa số chúng ta đã tìm hiểu các triết lý đông tây kim cổ để tìm ánh sáng cho cuộc đời, và cũng đã áp dụng những phương pháp tu tập khác nhau để giải khổ, song vẫn chưa an lạc, tự tại, chưa chắc chắn về con đường mình đang đi và vẫn còn mơ hồ về sự diệt khổ, chứng đắc, giải thoát, nhất là những gì bên kia cửa tử.


  • Thanh Tĩnh Kinh / Lê Anh Minh dịch và phụ chú

    清 靜經
    Thanh Tĩnh Kinh

    ● Lê Anh Minh dịch & chú thích

    Kinh này có tên gọi đầy đủ là «Thái Thượng Lão Quân Thuyết Thường Thanh Tĩnh Kinh» 太上老君說常清靜經, còn có tên là  «Thái Thượng Hỗn Nguyên Thượng Đức Hoàng Đế Thuyết Thường Thanh Tĩnh Kinh» 太上混元上德皇帝說常清靜經, «Thường Thanh Tĩnh Kinh» 常清靜經, hay «Thanh Tĩnh Kinh» 清靜經. Nội dung của kinh là giải thích sự diệu dụng của thanh tĩnh. Để đạt sự thanh tĩnh thì người tu phải «tam quán»: nội quán (nhìn vào trong), ngoại quán (nhìn ra ngoài), và viễn quán (nhìn ra xa). Tam quán để thấy vạn vật đều là không; tức là «trừng tâm» (làm trong sạch tâm) để diệt trừ vọng tâm, diệt trừ phiền não.

    Tác giả của bản kinh này chưa rõ là ai. Có thuyết cho rằng đó là Cát Huyền 葛玄 (164-244); có thuyết cho rằng tác giả là một đạo sĩ ẩn danh, sống vào đời Đường (618-907) hoặc Ngũ Đại (907-1279). Bản kinh này (có lời chú của Thuỷ Tinh Tử 水精子) đã được đưa vào «Chính Thống Đạo Tạng» 正統道藏. Đây là bản kinh được giới Đạo sĩ rất xem trọng. Giáo phái Thanh Tĩnh Phái 清靜派 của Toàn Chân Đạo 全真道 quy định đây là bản kinh nhật tụng của đạo sĩ bản môn, nên bản kinh được lưu hành rất rộng và có nhiều bản chú thích của các nhà như: Đỗ Quang Đình 杜光庭, Thuỷ Tinh Tử 水精子, Hỗn Nhiên Tử 混然子, Hầu Thiện Uyên 侯善淵, L‎‎ý Đạo Thuần 李道純.●


  • Chu Dịch với Nguyễn Bỉnh Khiêm / Phó giáo sư Nguyễn Tài Thư

    Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1586) là bậc "Muôn chương đọc khắp, học tài chẳng kém Âu, Tô, bảy bước thành thơ, văn lực không nhường Lý, Đỗ." (Theo lời xưng tụng của Đinh Thì Trung). Sống trong một thời đại có nhiều biến chuyển, ông đã lần lượt chứng kiến các triều Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn tàn lụi hay khởi hưng. Tình cảnh hỗn loạn đó làm cho người dân phải chịu cảnh. "Nhà ở đem chẻ làm củi, trâu cày đem ra giết." (Thương Loạn). Kỷ cương, trật tự phong kiến thì rối loạn, đảo điên: "Thờ vua, tôi chẳng ra tôi. Thờ cha, con chẳng ra con." (Cảm Hứng). Sống ở thời có nhiều biến thiên như vậy, một nhà trí thức lớn như Nguyễn Bỉnh Khiêm phải có đạo xử thế riêng của mình. Và dần dần ông đã tìm thấy những tri thức ấy ở trong Chu Dịch.














    Cảnh khổ mà lòng vẫn phải vui,
    Có vui mới thấy đạo say mùi,
    Say mùi đạo hãy xa phàm tục,
    Cho lặng lòng trần đắc vị ngôi.

    Đức Chí Tôn, Thiên Lý Đàn, 30-10 Mậu Thân, 19-12-1968

    Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Nhịp Cầu Giáo Lý ngày một tốt hơn.


    Hãy gửi góp ý của bạn tại đây