Thống Kê Newsletter
Lần đầu đến với Nhịp Cầu Giáo Lý?

Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.

 
Có thể bạn chưa xem qua
  • THÁNH THI SÁNG TẠO CA NGỢI THƯƠNG ĐẾ / Groupe des Adoratuers de College Épiscopal

    1) Trươc các tầng trời Ngài rạng rỡ uy nghi,
    Rộng lớn vô cùng và tế vi khôn tả
    Kìa, áo khoác ngàn sao muôn đời không đổi
    Và cùng Thái dương, tôi ca ngợi vang lừng


  • Trong các Đạo học gia đời Tống (960-1279), Chu Liêm Khê 周 濂 溪 (1017-1073) và Thiệu Khang Tiết 邵 康 節 (1011-1077) đặc biệt nổi tiếng về việc đưa tư tưởng Đạo giáo vào Đạo học.

    Đóng góp quan trọng nhất của Chu Liêm Khê cho Đạo học là Thái Cực Đồ 太 極 圖 và Thái Cực Đồ Thuyết 太 極 圖 說 .


  • ĐÔI ĐIỀU TÂM ĐẮC KHI HỌC
    LỜI ĐỨC KHỔNG THÁNH VÀ CÁC ĐẤNG TIÊN NHO DẠY
    Bài nói chuyện tại Hội trường Thuyết minh giáo lý Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý ngày 01-9 canh Dần (08-10-2010)

    . . .Đức Khổng Tử sanh ngày Canh Tý tháng 11 (tháng Tý) năm 21 đời vua Linh Vương Nhà Chu năm Canh Tuất (năm 551 trước tây lịch), tại huyện Khúc Phụ, Làng Xương Bình, nước Lỗ, nay thuộc tỉnh Sơn Đông. Cha đặt tên Khổng Khâu, tên chữ là Trọng Ni.
    Cha là Ông Thúc Lương Hột. Mẹ là bà Nhan thị Trưng Tại.
    - Năm ba tuổi đã thích cúng tế.
    - Thành nhân làm Uy lại coi việc tính toán đo lường.
    - Kế làm Tư chức lại coi việc chăn nuôi trồng tỉa.
    - Năm 34 tuổi diện kiến với Đức Lão Tử. Sau đó đi chu du liệt quốc.
    - Năm 56 tuổi về nước Lỗ giữ chức Trung Đô Tể (giữ quốc thành của nước Lỗ), kế làm quan Tư Không rồi Đại Tư Khấu kiêm Tướng quan (Tể tướng). Ngài thi hành pháp công chém đại phu Thiếu Chính Mão.
    - Khi hội với nước Tề ở Giáp Cốc, tài ngoại giao của Ngài buộc Tề phải trả các đất đã chiếm của nước Lỗ. Tài cao đức trọng thì bị nhiều dèm pha, Ngài phải từ chức ra đi.
    Từ năm 68 tuổi, Ngài chuyên vào công tác văn hóa để lại sự nghiệp cho muôn đời là san định Kinh: Thi, Thư, Lễ; tự viết kinh Xuân Thu và viết Thập Dực cho Kinh Dịch.
    . . .


  • Thế pháp Di Lạc Hạ nguơn / Vạn Hạnh Thiền Sư

    THI

    Đạo tâm tại hề Phật tại tâm,

    Vọng cầu bôn ngoại thị hôn trầm,

    Nhơn nhơn tự hữu Như Lai tánh,

    Tánh đắc Như Lai pháp diệu thâm.

    Vạn Hạnh Thiền Sư, khánh hỉ, khánh hỉ chư Thiên ân sứ mạng, chư đạo tâm đạo hữu.


  • Xuân rằng đến chẳng vì ai ! Xuân đến theo lẽ tự nhiên của đất trời. Chẳng vì có hoa mai, hoa đào nở. Bởi mai, đào trổ đẹp để chào Xuân! Người vật đón Xuân thật tưng bừng ! Có phải tình riêng hay ý chung?
    Thế là thiên nhiên luôn lập lại những chu kỳ để vạn vật tăng trưởng, tiến hóa. Từ Xuân vào Hạ sức sống cực thịnh thăng hoa, cảnh sắc huy hoàng. Sang Thu, nắng dịu, mưa phùn, khí lực tiềm tàng trong muôn loài như lắng đọng lại. Cho hay cơ tiến hóa không thể bạo hành, bất cập. Đó là lý bảo tồn, khỏi sa vào vòng tự diệt.
    “ Xuân là Đạo, là tâm. Xuân cũng là luật tắc vận hành từ chỗ xuất sanh đến khi phản bổn.”


  • Đời Đạo Song Tu / Thiện Hạnh

    "Thiêng Liêng thường nói: Cõi đời là chốn phù du, là sông mê, là giả tạm. Đừng ai quá chấp ngã mà ôm chầm lấy nó để rồi hủy hoại bước đường tiến hóa. Có người nghe nói như vậy, đương làm ăn kinh doanh sự nghiệp, đương trong cảnh phu ấm thê vinh, phụ tử tương phùng, rồi vội vàng dứt bỏ tất cả để tìm cái không. Trong lúc đó cũng có những người không tin, mãi đắm đuối mê say ôm ghì lấy cái giả tướng ấy. Cũng ví như người lữ khách muốn đến vùng Mỹ Châu mà lại ôm ghì lấy chuyến tàu hỏa tốc hành từ miền Nam đến Đông Hà, v.v. Hai người ấy ở hai hoàn cảnh và hai tâm trạng đều trật hết, ấy là sai lý đạo."

    Lý thuyết về trung đạo dạy con người không nên thái quá cũng không nên bất cập mà phải hài hòa trong cuộc sống. Thực hành bổn phận và trách nhiệm đối với cuộc đời cũng chính là thực hành đạo lý một cách rốt ráo. Cuộc sống nhân sinh và tâm linh có luôn hòa quyện lẫn nhau, quân bình với nhau thì cuộc sống con người mới an vui, hạnh phúc, và có ý nghĩa.

    [Hình: Các Hội thánh & Cơ Quan đạo Cao Đài cứu trợ bảo ở Bến Tre]

    [1]Đức Giáo Tông Đại Đạo, thánh thất Tây Thành, 14-3 Canh Tuất (18-4-1970).


  • . . .Không kể các thánh sở trong phạm vi nội ô ở các Tòa Thánh, ở mỗi Hội Thánh đều có các thánh sở Cao Đài đặc biệt về hình thức cũng như nội dung. Riêng các thánh sở đơn lập, phần nhiều mỗi thánh sở đều có đặc điểm riêng tùy theo lời dạy của Ơn Trên.


  • CHÂN LÝ - HUYỀN DIỆU / Đức Thái Thượng Đạo Tổ

    ĐẠO NGUYÊN CHÁNH NGHĨA
    Chương thứ II.- Chân Lý, Huyền DiệuHuyền Đô Đại Pháp Sư. Ta chào chư hiền lưỡng ban. Hãy tu chỉnh trung đàn, tiếp giá Đạo Tổ, Ta xuất cơ.

    Tiếp điển:

    THI

    Thái cổ phương tri đạo phát minh,
    Thượng mưu mạc dụng sự tương tranh,
    Đạo tâm hà thủ tâm tư kỷ?
    Tổ pháp hoằng khai độ chúng sanh.


  • Đối với nhân loại, di sản là những gì do lịch sử tiến hóa của loài người để lại, có giá trị duy trì tinh hoa của loài người đồng thời thúc đẩy tiếp tục phát huy những giá trị ấy.
    Trong lịch sử nhân loại đã bao hàm lịch sử tôn giáo. Thật ra tôn giáo có nguồn gốc từ tín ngưỡng. Người ta thường cho rằng, tín ngưỡng là những niềm tin rất thô sơ, là mặc cảm tự ti giữa thiên nhiên hùng vĩ, là nỗi sợ hãi trước sức mạnh kinh khủng của nó. Suy cho cùng, niềm tin thô sơ ấy là một tâm thức bẩm sinh, có trước khi chào đời. Còn nỗi sợ hãi là cảm tính giữa ngoại cảnh. Cái trước mới là cái di sản vô hình trên đường tiến hóa của vạn vật, nghĩa là chỉ có con người mới có tín ngưỡng.


  • Tóm lược. Trong bài báo này, chúng tôi trình bày phương pháp phân tích ý nghĩa biểu tượng nghi lễ của Victor Turner – một người đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển cách tiếp cận để nghiên cứu biểu tượng nghi lễ thuộc lĩnh vực nhân học biểu tượng. Sau đó, chúng tôi vận dụng phương pháp này để phân tích ý nghĩa Thiên Nhãn trong đạo Cao Đài và rút ra những thuộc tính quan trọng của nó. Từ phương pháp của Turner và từ quá trình phân tích ý nghĩa Thiên Nhãn, chúng tôi rút ra một số thuộc tính phổ biến của biểu tượng và một phương pháp tổng quát để phân tích ý nghĩa biểu tượng nghi lễ nói chung.
    Từ khóa: Thiên Nhãn, biểu tượng, ý nghĩa biểu tượng, nghi lễ, nhân học, Victor Turner


  • Ca dao Việt Nam có câu: “Tu đâu cho bằng
    tu nhà; Thờ cha kính mẹ mới là chơn tu.”
    Kinh Tứ Thập Nhị Chương có dạy: “…Cha mẹ
    là vị Thần minh cao nhất trong các Thần minh.”
    Kinh Đại Tập có đoạn chép: “ Gặp thời không
    có Phật, khéo thờ cha mẹ tức là thờ Phật.”
    Qua đó, chúng ta thấy rằng đối với con cái, cha
    mẹ phải được tôn kính như một vị Thần minh
    cao nhất, vì cha mẹ không chỉ tạo cho con mảnh
    hình hài mà còn nuôi dưỡng con thành người.
    Cha mẹ là chiếc lá chắn an toàn che chở suốt đời
    cho con. Do vậy, đạo làm con là phải giữ tròn chữ
    hiếu. Con người thực hành được Hiếu đạo, chính
    là tạo được công đức rất lớn.


  • Từ thuở hoang sơ của địa cầu, loài người đã trải qua nhiều nỗi hãi hùng do biến động của thiên nhiên đất trời, nên nảy sinh tín ngưỡng mộc mạc, tôn thờ những sức mạnh vô hình. Dần dần theo đà phát triển của sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng đa thần xuất hiện. Từ dó, nhiều hình thức, nhiều nghi tiết bày tỏ đức tin đã hình thành đa tạp tùy theo tâm thức hướng về thần linh của mỗi bộ lạc, mỗi sắc tộc. Kỳ thị, mâu thuẩn, chiến tranh cũng phát sinh từ đó.














    Mong sao em mến hiểu lòng này,
    Sắp xếp gia đình cho khéo tay,
    Dành để ngày giờ hành đạo sự,
    Tô bồi âm chất mới là hay.

    Đức Vân Hương Thánh Mẫu, Chơn Lý Đàn, 26-01 Quý Sửu, 28-02-1973

    Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Nhịp Cầu Giáo Lý ngày một tốt hơn.


    Hãy gửi góp ý của bạn tại đây