Thống Kê Newsletter
Lần đầu đến với Nhịp Cầu Giáo Lý?

Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.

 
Có thể bạn chưa xem qua
  • Quê Mẹ (thơ) / TN Liên Hoa

    "Mẹ già như chuối ba hương
    Như xôi nếp một như đường mía lau"

    Từ thuở nào xa xưa,
    Câu ca dao vời vợi;
    Ươm nụ hồng chớm nở,
    Và giọng hát à ơi!
    ...


  • Các Tòa Thánh Đạo Cao Đài / Tư liệu sử đạo

    Các Hội Thánh Cao Đài nay gồm:
    I-Tòa Thánh Tây Ninh , II-Tòa Thánh Chơn Lý, III- Tòa Thánh Bến Tre (HT.Ban Chỉnh Đạo), IV- Tòa Thánh Châu Minh (HT.Cao Đài Tiên Thiên), V-Tòa Thánh Ngọc Sắc (HT.Minh Chơn Đạo), VI- Tòa Thánh Ngọc Kinh (HT. Bạch Y Liên Đoàn Chơn Lý), VII-Tòa Thánh Chiếu Minh Long Châu, VIII-TòaThánh Cầu Kho Tam Quan, IX- Trung Hưng Bửu Tòa (HT. Truyền Giáo Cao Đài)


  • Tổng quan về
    Đại Đạo tam kỳ phổ độ

    Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là đại cuộc cứu độ nhân loại bằng chánh pháp Đại Đạo do Thượng Đế thiết lập vào thời kỳ hạ nguơn nầy.

    Năm Bính Dần 1926, Đức Chí Tôn sáng lập đạo Cao Đài để khai minh Đại Đạo, tức là dùng một tôn giáo, ứng dụng những quy luật của vũ trụ hay thiên lý, thiên cơ, hầu phổ độ chúng sanh.
    Thiên cơ là sự vận hành tuần hoàn của Đạo theo luật tuần hoàn “chu nhi phục thỉ” mà Tam kỳ phổ độ ứng với thời sau cùng của cuộc phục thỉ quy nguyên.


  • Ý Nghĩa Lễ Vu Lan / Trần Ngọc Tâm

    Ý Nghĩa Vu Lan

    Trần Ngọc Tâm

    Hằng năm vào dịp Rằm tháng Bảy, là Lễ Trung Ngươn Địa Quan xá tội, ngày xá tội vong nhân, Vu Lan mùa báo hiếu theo truyền thống của Phật giáo bắc tông.
    Nhắc lại sự tích báo hiếu này, " Lễ Vu Lan bắt nguồn từ sự tích về lòng hiếu thảo của Ông Ma Ha Một Ðặc Già La, thường gọi là Ðại Mục Kiền Liên, gọi tắt là Mục Liên. Vốn là một tu sĩ khác đạo, về sau Mục Liên đã quy y và trở thành một đệ tử lớn của Phật, đạt được sáu phép thần thông rồi được liệt vào hạng thần thông đệ nhất trong hàng đệ tử của Phật. Sau khi đã chứng quả A La Hán, Mục Liên ngậm ngùi nhớ đến mẫu thân, bèn dùng huệ nhãn nhìn xuống các cõi khổ mà tìm thì thấy mẹ đã đọa vào kiếp ngạ quỷ (quỷ đói) nơi địa ngục A Tì.


  • Quán niệm về Tâm / Đại Khai (MLTH)

    Ngài Bác Nhã Thiền Sư trong bài Chánh Pháp Nhãn Tạng – Niết Bàn Diệu Tâm đã cho chúng ta biết có bốn loại Tâm là Duyên Lự Tâm, , Tư Lương Tâm, Tích Tập Tâm và Kiến Thật Tâm hay Thể Tánh Thường Trụ. Tuy nói bốn, chớ kỳ thật cũng có một Tâm mà thôi. Đại lược cho ta thấy sự động tịnh của Tâm, Thánh Phàm của nó.Thể của Tâm ví như tánh “ướt”, Tướng của Tâm ví như nước lưu chuyển, Dụng của Tâm như sóng gió, sông ngòi, rong rêu, tôm cá, cù lao, bọt sóng. Tâm là một biển thức, sóng nổi cuồn cuộn, ầm ỉ đêm ngày là do gió “nghiệp” khởi lên. Gió là vô minh, sóng là nghiệp thức. Phá vô minh thì mọi sự an lành, mà phá được vô minh, trừ khi Bác Nhã không còn phương nào khác.
    “Bác Nhã là gì ? Là “Giác”.


  • "Nhắc lại đoạn đầu tôi nhập môn rồi, khiến lòng tôi suy nghĩ cuộc đời không thấy ích gì cho phần linh hồn nên tôi không còn luyến tiếc sản nghiệp tôi nữa; nếu còn say mê vật chất hữu hình này thì biết chừng nào trở về cảnh cũ ngôi xưa cho được nên tôi đem mình quỳ trước Thiên bàn nguyện rằng: hiến thân này cho Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tùng Hội Thánh Tây Ninh, ngõ hầu dìu dắt nhân sanh vào đường đạo đức. . ."


  • Khai Minh Đại Đạo là một trong vài lễ trọng hàng năm của Cao Đài giáo. Như lời hướng dẫn của Thiêng Liêng, khi tổ chức một lễ kỷ niệm nào là dịp ôn lại truyền thống cùng nâng cao lòng quyết tâm tiếp nối sự nghiệp của người đi trước. Năm nay, để thành tâm hiến lễ Kỷ Niệm Khai Minh Đại Đạo, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại bài học ẩn chứa trong những chi tiết sự kiện đã diễn ra trong đại lễ.


  • Thấy chăng anh
    Nước Hoàng Hà từ trời tuôn xuống
    Chảy băng ra biển chẳng quay về.
    Lại chẳng thấy
    Lầu cao gương sáng thương đầu bạc
    Sớm tựa tơ xanh, chiều đã tuyết
    Đời khi đắc ý hãy nên vui
    Chớ để chén vàng trơ trước nguyệt.


  • Con người hôm nay và con người hôm qua – con người của ngàn xưa – dường như không khác nhau là mấy. Cởi bỏ lớp vỏ bọc văn minh vật chất, con người ấy, dẫu hình hài có thanh tú mỹ lệ hơn con người ban sơ, nhưng nỗi khắc khoải vẫn còn nguyên vẹn. Vẫn còn đấy niềm băn khoăn muôn thuở: con người, mi là ai? Một nhà thơ nào đó đã từng òa khóc cho thân phận con người trong cảnh thương hải tang điền: «Ta là ai giữa mùa thay đổi ấy?» Hoặc như thi nhân Trần Tử Ngang (651-702) đời Đường đã chua xót ngậm ngùi:


  • Sau 14 năm làm vua, theo truyền thống của nhà Trần, Nhân Tông nhường ngôi cho con là Anh Tông, rồi làm Thái thượng hoàng và đi tu, trở thành Tổ thứ nhất phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, một phái Thiền để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.


  • hưa tiến sĩ Adler,

    Người ta luôn luôn viện dẫn kinh nghiệm, lý trí hoặc đức tin để hậu thuẫn cho những điều họ tin tưởng. Tôi hiểu lý trí và kinh nghiệm là gì, nhưng còn đức tin? Nó có phải là một bột phát cảm tính hoặc cơn dâng trào của tình cảm? Nó có đi ngược lại, hay có thể hòa giải được, với tất cả lý trí và kinh nghiệm? Các nhà tư tư tưởng lớn nói gì về đức tin?

    P.L.F.


  • Chúng ta sống trong cõi nhị nguyên đầy khổ đau nhân quả nhưng cùng lúc chúng ta cũng sống trong tình thương của quá nhiều người dành cho ta. Vậy, chúng ta phải vì đời mà đem tình thương gieo rải khắp nhơn sanh. Có như thế thì quảng đời còn lại của chúng ta mới thật sự có ý nghĩa, bởi vì Đức Mẹ đã khẳng định:

    Có thương con mới dày công quả,
    Công quả là đường đến Ngọc Kinh.














    Là môn đệ Cao Đài Thượng Đế,
    Phải dặn lòng phước huệ song tu,
    Ấy là công quả công phu,
    Thương người mến vật vận trù nội tâm.

    Đức Giáo Tông Đại Đạo, CQPTGL, 29 tháng Chạp Mậu Ngọ

    Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Nhịp Cầu Giáo Lý ngày một tốt hơn.


    Hãy gửi góp ý của bạn tại đây