Thống Kê Newsletter
Lần đầu đến với Nhịp Cầu Giáo Lý?

Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.

 
Có thể bạn chưa xem qua
  • Qua tham khảo các đề tài nghiên cứu hay thuyết giảng giáo lý đạo Cao Đài, chúng ta có thể thấy nhiều soạn giả khai thác các hệ thống phạm trù cơ bản của nền Giáo lý Đại Đạo được xếp loại như sau:
    I. Hệ thống Bản thể: Vô Cực – Thái Cực – Hoàng Cực
    II. Hệ thống Chủ thể: Diêu Trì Kim Mẫu – Ngọc Hoàng Thượng Đế - Đấng Thiêng liêng
    III. Hệ thống Thiên cơ: Đạo – Sanh hóa – Tiến hóa
    IV. Hệ thống tâm linh: Đại linh quang – Tiểu linh quang –Chân ngã- Linh hồn
    V. HT. Đạo pháp : Nguyên thần – Tánh Mạng – Thần khí
    VI. HT. Sứ mạng: SM. Đại đồng - SM. Đại thừa - SM. Quy nguyên


  • Ấn giáo nêu lên bốn phương pháp giải thoát (moksha) gọi là yoga hay mârga.


  • Danh lợi - Đắc thất / Lê Anh Minh dịch

    Tư tưởng Đạo gia 道家思想 ● Lê Anh Minh dịch

    15. DANH LỢI  名 利 – ĐẮC THẤT  得 失

    337. Danh dữ thân thục thân, thân dữ hóa thục đa. Đắc dữ vong thục bệnh. Thị cố, thậm ái tắc thậm phí. Đa tàng tất hậu vong. Tri túc bất nhục. Tri chỉ bất đãi. Khả dĩ trường cửu. [Đạo Đức Kinh, chương 44]

    名與身孰親?身與貨孰多?得與亡孰病?是故,甚愛必甚費,多藏必厚亡。
    足不辱,知止不殆,可以長久。《道德經 • 第四十四章》

    【Dịch】Danh với thân, cái nào quý hơn? Thân với của, cái nào trọng hơn? Được với mất, cái nào khổ hơn? Cho nên, yêu lắm ắt hao phí nhiều. Chứa lắm ắt mất nhiều. Biết đủ sẽ không nhục. Biết dừng sẽ không nguy. Có thể trường cửu.


  • NÓI VỀ CÁI TÂM / Cố Định Pháp Minh Thiện

    Tu hành giải thoát là phải tìm cách khế hiệp với Bổn thể.
    Để nêu cái tông chỉ vừa nói trên đó cho thiên hạ đặng biết, tôi có viết một đôi liển gắn nơi cửa ngỏ chùa Tam-Tông-Miếu như vầy :
    Sắc tiền bất sắc, tâm phương tịch,
    Không lý phi không, tánh thỉ tinh.
    Đó là nói ngay vào cái tâm Bổn-thể của chúng sanh là bất sắc (tức là không) và phi không (tức là có), mà xin đừng chấp có, chấp không theo thế tục, mới là mong vào con đường trung đạo để hiệp với tâm Bổn-thể của Trời-đất.
    Tam giáo đồng nguyên nghĩa là : cũng đồng dựa vào một cái gốc lớn nầy. Tam giáo in nhau cũng là giống nhau ở một chỗ đó.


  • Khi xây dựng ngành Việt Nam học chắc chắn phải nói tới một "bộ phận" của ngành học mới mẻ này là Sài Gòn học.Trong Sài Gòn học, khách quan mà nói, không thể hiếu mảng nghiên cứu về Cao Đài.


  • "...Tôi không quen ghi chép sổ sách gì, nhưng nhớ. Đó là ngày 20 tháng Chạp năm Bính Dần. Hôm ấy nhằm chuyến thứ tư cha tôi chèo ghe mướn cho mấy người ở nhà máy đường Thanh Điền lên viếng lễ "Đạo mới" bên chùa Gò Kén... "


  • “Thành công không do những cái đã nắm đặng ở trong tay; thất bại không do những cái đã vuột khỏi tầm tay.”
    (Lý Giáo Tông)


  • CONCISE ENGLISH-VIETNAMESE GLOSSARY OF CAODAISM

    * LÊ ANH MINH

    abstinence: kiêng (tiết chế).– sexual abstinence: tiết dục.– to abstain from alcoholic drink: kiêng rượu (tiết chế).– total abstinence (=to give up drinking; to stop drinking): bỏ hẳn rượu.– to abstain from smoking (= to stop smoking): kiêng thuốc (bỏ hút).– to abstain from sexual activities: tiết dục.

    adherents: tín đồ.– bổn phận của tín đồ: duties of adherents.– a new adherent: người mới nhập môn.– Adherents respectfully bow three times, with their hands joined together: Tín đồ bắt ấn Tý kỉnh thành xá ba xá.– Adherents must prostrate themselves thrice at the end of each prayer: Tín đồ phải lạy 3 lạy sau khi đọc xong mỗi bài kinh.– Adherents of Caodaism believe that, due to the frailty of those religious leaders, the truth became distorted: Tín đồ Cao Đài cho rằng các tôn giáo đã mất chân truyền vì các vị lãnh đạo yếu kém.– New adherents must learn by heart the prayers and understand the religious laws: Tân tín đồ phải học thuộc các bài kinh và am hiểu các luật đạo.


  • TU CHỨNG / DIỆU NGUYÊN

    Trong một khóa tu đặc biệt dành cho hàng Thiên ân nữ phái Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo tại Vĩnh Nguyên Tự vào năm Đinh Tỵ (1977), Đức Bảo Hòa Thánh Nữ dạy: “Đời càng đảo điên, người tu hành càng có trách nhiệm. Trách nhiệm cao quý và nặng nề nhứt là tu chứng để hoằng dương chánh pháp phổ độ nhơn sanh. (…) Chư Thiên ân Cơ Quan và chư m nghiệp phải trễ tràng.”[1]


  • Từ xa xưa, con người và thiên nhiên luôn gắn liền với nhau, hỗ trợ cho nhau. Con người đã biết dựa vào thiên nhiên để sản xuất và đồng thời cũng là để sáng tạo ra những loại hình nghệ thuật độc đáo. Miền đồng bằng châu thổ sông Hồng là cái nôi sinh ra nghệ thuật múa rối nước.


  • Tứ vô lượng tâm

    Tứ vô lượng tâm là bốn phẩm hạnh cao thượng (Brahma Vihara) mà các vị Bồ tát phải thực hành trong đời hành đạo của mình để đạt đạo quả cao gồm có bốn tâm : Tâm Từ (metta), tâm Bi (Karuna) Tâm Hỉ (mudita) và tâm Xã (Upekkha).


  • Các nhà khoa học, nhân chủng học cũng như các tôn giáo đều công nhận CON NGƯỜI là một sinh vật tiến hóa cao nhất trên hành tinh. Tuy nhiên dù loài người đã và đang tiến bộ, văn minh đến đâu, sự sống sinh lý tự nhiên vẫn còn tùy thuộc bản năng tự hữu (1) Bản năng là năng lực sinh tồn của sinh vật từ thảo mộc , thú cầm đến con người. Nơi con người, lý trí và tâm linh đã thăng tiến đến mức được gọi là thượng đẳng chúng sinh khả dĩ chế ngự được thú tánh thuộc bản năng.














    Nên Người chẳng phải dễ gì đâu,
    Nên Phật Thánh Tiên lại khó cầu,
    Biết sửa một ly là đắc quả,
    Con ôi Diêu Điện Mẹ đang sầu.

    Đức Diêu Trì Kim Mẫu, Thiên Lý Đàn, 01-02 Mậu Thân, 27-01-1968

    Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Nhịp Cầu Giáo Lý ngày một tốt hơn.


    Hãy gửi góp ý của bạn tại đây