Thống Kê Newsletter
Lần đầu đến với Nhịp Cầu Giáo Lý?

Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.

 
Có thể bạn chưa xem qua
  • Mở đầu
    Nhìn lại lich sử tôn giáo thế giới, qua Nhất kỳ, Nhị kỳ Phổ Độ, Đức Thượng Đế đã trao Quyền pháp cho các đấng Giáo Tổ giáng phàm cứu độ chúng sanh. Nhưng đến thời Hạ ngươn này, Đức Cao Đài Thượng Đế mở ra đại cuộc Tam Kỳ Phổ Độ là cơ hội mấy nghìn năm một thuở, có nhiều ưu ái đối với nhân loại để chuyển đời mạt kiếp sang đời Thánh đức, nên cơ cứu thế Kỳ ba hội tụ nhiều sự kiện hi hữu.
    _ Đại nguyện của Đức Chí Tôn, đích thân lâm phàm mở Đạo là một hi hữu
    _ Ngài giáng phàm vượt thời gian không gian bằng ân điển huyền diệu đến với mọi người mọi nơi từ ngỏ ngách đến thâm sơn cùng cốc không phân biệt sang hèn quý tiện, dân tộc lạc hậu hay tiến bộ giác ngộ nhân sanh cho kịp cơ thay phàm đổi thánh cuối cùng là một hy hữu chưa tùng có.


  • Làm người trên cõi thế là đã mặc nhiên thọ nhận sứ mạng làm người, thay Trời điều
    hành cai quản thế giới nhân sinh. Thánh giáo Cao Đài dạy rõ:

    “Làm sứ mạng vi nhân là giữ vai trò thực hành đạo Tài thành, bớt chỗ dư, bồi chỗ thiếu để làm cho cuộc sống nơi chốn hữu hình có đầy đủ tính chất chân thiện mỹ. Trí tuệ con người thừa hưởng từ khối óc siêu việt của Đức Thượng Đế là để khám phá, phát minh,, làm nên những công trình có ích, phục vụ cho cuộc sống hạnh phúc thế gian. Trời đã tạo sẵn nguồn nguyên liệu vô hạn từ hữu hình đến vô hình để con người hợp tác tìm kiếm, chế tác ra những sản phẩm vật chất cho chính con người thừa hưởng."


  • Duy tuệ thị nghiệp / Huỳnh Ngọc Chiến

    Tư tưởng Đức Phật như một buổi đại yến tiệc, mà nói như nhà thơ Bùi Giáng, chỉ cần một hạt cơm thừa trên bàn tiệc đó cũng quá đủ để chúng ta thụ dụng suốt bình sinh. Điều đó ta càng dễ dàng cảm nhận khi đi sâu vào thế giới kinh điển Phật giáo.
    Không cần đến cảnh giới hoành tráng được mô tả trong kinh Hoa Nghiêm hay tư tưởng siêu việt được diễn đạt trong kinh Đại Bát Nhã, vốn là những thứ có thể làm cho những kẻ sơ cơ như chúng ta khiếp hãi, mà ngay những câu kệ đơn giản mộc mạc trong kinh Pháp Cú hay kinh Phật thuyết Bát Đại Nhân Giác cũng khiến chúng ta cảm nhận được chiều sâu thăm thẳm, khi chúng ta đọc những trang kinh đó bằng những suy niệm chân thành.
    Trong phần cuối của bài kệ thứ ba trong kinh Phật thuyết Bát Đại Nhân Giác, Đức Phật dạy rằng, bậc Bồ tát cần phải: "Thường niệm tri túc, an bần thủ đạo, duy Tuệ thị nghiệp”. (Thường nghĩ đến việc biết đủ, yên trong cảnh nghèo mà giữ đạo, chỉ lấy việc đạt đến tuệ giác làm sự nghiệp đích thực của mình). Kinh Phật thuyết Bát Đại Nhân Giác rất ngắn, chỉ gồm tám bài kệ ngắn nói về tám điều giác ngộ lớn, song chỉ cần một phần của bài kệ thứ ba này cũng đủ làm kim chỉ nam cho những ai thành tâm tu học, muốn đi vào thế giới của Phật đà.


  • Kinh Cầu Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ( Ki-Tô giáo)

    Lạy rất Thánh đồng trinh Maria. Mẹ đã vui lòng nhận lấy tước hiệu là Mẹ Hằng Cứu Giúp cho được giục lòng chúng con trông cậy vững vàng thì con nài xin Mẹ dủ lòng thương cứu giúp con trong mọi nơi mọi lúc, khi phải các cơn cám dỗ, khi sa phạm tội và khi gặp các sự khốn khó trong đời con và nhất là trong giờ chết.


  • Họa thơ Xuân / Nguyễn Phúc Đạt &Nguyễn Vô Cùng

    NCBL giới thiệu  bài thơ Xuân "Xuân tha phương" và bài họa "Xuân quê cũ" trước thềm Xuân Mậu Tý 2008


  • Đêm lịch sử Khai Minh Đại Đạo 14 rạng Rằm tháng 10 Bính Dần 1926, Đức Chí Tôn đã Thiên phong phẩm Giáo Sư cho một số vị Nữ và Nam phái, đồng thời cũng Thiên phong Giáo Hữu một số vị nam phái xung phong đi truyền đạo ở Trung kỳ và Bắc kỳ theo lời kêu gọi của Thầy.
    Ngay đêm sau, Thầy ban cho Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài. Trong đó 2 phẩm Giáo Sư và Giáo Hữu có chức năng và nhiệm vụ “dạy dỗ” tín đồ rất rõ nét.


  • ĐẠO CAO ĐÀI VỚI DÂN TỘC / Phó Giáo Sư TS. Nguyễn Thanh Xuân

    Đạo Cao Đài ra đời ở Nam Bộ vào đầu thế kỷ XX, đến nay là một trong những tôn giáo lớn ở Việt Nam với khoảng 2,5 triệu tín đồ, tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Nam, nhất là các tỉnh Nam Bộ. Đạo Cao Đài ra đời như một hiện tượng tôn giáo độc đáo ở Việt Nam đầu thế kỷ XX với nhiều nét đặc trưng riêng khác. Một trong những đặc trưng tiêu biểu của Cao Đài là quá trình gắn bó với dân tộc.


  • 1. * Ngọc Trì là ai?


    Trong
    việc hành công, miệng con người không gọi là khẩu mà gọi là Ngọc Trì
    (ao ngọc). Trong miệng có hai suối nước là Ngọc Tuyền, xuất phát cam lồ
    là Ngọc dịch, đây là Tiên dược của hành giả chỉ có khi thanh tịnh trong
    thời thiền.

    Cơ thể con người
    có một cấu tạo đặc biệt, mắt của chúng ta cho được mà miệng không cho
    được. Cho nên miệng là ta, ta là miệng. Ngọc Trì là chính chúng ta trên
    đường tu, tuy hai mà một. Ngọc Trì lên đường tu là cách nói hình tượng
    nhân cách của chủ đề CẨN NGÔN.

    Đạo Trưởng Huệ
    Lương có kể chuyện về thời Khai Đạo tại Thánh Thất Cầu Kho. Trong một
    thời cúng, các Đấng Tiền Khai đang đọc kinh trên bửu điện thì dưới trù
    phòng có tiếng cải cọ lớn tiếng. Tiền Bối Đòan Văn Bản bước ra và xuống
    bếp khuyên giải "Xin chị để cho các anh lớn dâng lễ xong rồi có chuyện
    gì thì nhờ phân xử". Bà tiếp tục hét "không chờ gì hết!", rồi tự nhiên
    nín luôn.

    Mỗi
    ngày người ta thấy bà đánh một dấu phấn ở gốc cột. Đủ ba năm bà mua một
    hủ tương đến gặp Ngài Đòan Văn Bản, chỉ vào hủ tương rồi chỉ ra hướng
    Vũng Tàu. Ngài Đòan Văn Bản hỏi "chị muốn chúng tôi đưa chị ra Long Hải
    gặp anh lớn Nguyễn Ngọc Tương phải không? Bà gật đầu.

    Ngài
    Đòan Văn Bản mua vé xe đò, đưa bà ra quận Đất Đỏ vào gặp Ngài Nguyễn
    Ngọc Tương (lúc bấy giờ Ngài đang làm chủ quận Đất Đỏ). Sau khi nghe tự
    sự Đức Nguyễn Ngọc Tương mời Ngài Đòan Văn Bản và đương sự cùng lên
    cúng thời ngọ. Trước khi xã đàn Đức Nguyễn Ngọc Tương lấy nước âm
    dương, cầu nguyện Ơn Trên và đưa cho bà uống, ngay tức thì bà nói ngay
    "con xin cám ơn Ơn Trên tha tội, từ đây con xin cẩn ngôn, cẩn hạnh".

    Chúng ta tu, miệng chúng ta phải tu theo, đó là Ngọc Trì lên đường tu.


  • Trong "Lịch trình hành đạo" của Đức Lê Đại tiên ban cho Cơ quan Phổ thông Giáo lý, nơi phần huấn luyện Giáo sĩ, Vụ trưởng, "Pythagore giáo" được sắp cùng một hạng mục với Phật giáo, Thích ca giáo, Bà la lôn giáo, có nghĩa Pythagore cũng được xem là một tôn giáo.


  • Qua tham khảo các đề tài nghiên cứu hay thuyết giảng giáo lý đạo Cao Đài, chúng ta có thể thấy nhiều soạn giả khai thác các hệ thống phạm trù cơ bản của nền Giáo lý Đại Đạo được xếp loại như sau:
    I. Hệ thống Bản thể: Vô Cực – Thái Cực – Hoàng Cực
    II. Hệ thống Chủ thể: Diêu Trì Kim Mẫu – Ngọc Hoàng Thượng Đế - Đấng Thiêng liêng
    III. Hệ thống Thiên cơ: Đạo – Sanh hóa – Tiến hóa
    IV. Hệ thống tâm linh: Đại linh quang – Tiểu linh quang –Chân ngã- Linh hồn
    V. HT. Đạo pháp : Nguyên thần – Tánh Mạng – Thần khí
    VI. HT. Sứ mạng: SM. Đại đồng - SM. Đại thừa - SM. Quy nguyên


  • NGAI CỦA ĐỨC HỘ PHÁP / Châu Đạo California

    Ngày mùng 10 tháng 4 năm Kỷ Hợi ( 17-5-1959 ) lúc 13 giờ 30, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc thoát xác qui Thiên tại Miên Quốc. Tính theo Dương lịch, thời gian lưu vong của Đức Ngài tại Miên Quốc là 3 năm 3 tháng.
    Hôm nay, nhân lễ Kỷ Niệm Đức Hộ Pháp Qui Thiên năm thứ 52, chúng ta đang hướng tất cả tấm lòng sùng kính sự nghiệp của Ngài thọ lịnh tử Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế ban cho nhơn loại một mối Đạo Trời, là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, là ơn cứu độ lần III ngay trong thời Hạ Nguơn Mạt Pháp.Đó là sự nghiệp về Tâm Linh.


  • Tạo thế nhân hòa / Đạt Tường

    Không phải đến bây giờ, mà đã từ rất lâu trong lịch sử nhân loại, ý niệm "nhân hòa" đã đđược xếp trong 3 yếu tố quyết định mọi sự thành bại của con người trong mọi lĩnh vực đời sống, từ khía cạnh kinh tế nhỏ nhất của một người bình thường là tìm việc làm mưu cầu sự sống cho đến phương diện chính trị với việc lớn nhất là làm vua trị vì thiên hạ. Đó là "Thiên thời, Địa lợi và Nhân hòa". Trong 3 yếu tố này, con người không tạo ra được "thiên thời", cũng khó có thể làm nên "địa lợi", mà chỉ có thể gây dựng được " Nhân hòa".














    Mong sao em mến hiểu lòng này,
    Sắp xếp gia đình cho khéo tay,
    Dành để ngày giờ hành đạo sự,
    Tô bồi âm chất mới là hay.

    Đức Vân Hương Thánh Mẫu, Chơn Lý Đàn, 26-01 Quý Sửu, 28-02-1973

    Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Nhịp Cầu Giáo Lý ngày một tốt hơn.


    Hãy gửi góp ý của bạn tại đây