Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.
-
Cách đây đúng 12 năm, thời điểm lịch sử của sự ra đời của Khối Liên Giao các Hôi Thánh Cao Đài. Sở dĩ nói là thời điểm lich sử vì nó đánh dấu môt bước ngoăc dẫn đến nhiều thay đổi tiến bộ trong cuôc phát triển của toàn đạo :
-
Trong Huấn Từ ngày 14 tháng giêng năm Bính Ngọ 1966, tại Thiên Lý Đàn, Đức CHÍ-TÔN có dạy như sau :
“... Có Trời mới có chúng sanh,
Có con, con mới tu thành Phật Tiên.
Con là một Thiêng Liêng tại thế,
Cùng với Thầy đồng thể linh quang.
Khóa chìa con đã sẳn sàng,
Khi vào cõi tục, khi sang Thiên Đình...”
-
. . .Người tu hành cũng thế. Muốn xây đắp được một nền tảng chơn lý để đạt đến chỗ chí linh chí diệu của con người trong đạo pháp, cũng cần phải đem hết tâm thần vào chỗ đại định để tìm ra những bí quyết hành tàng trong bộ máy tối linh hầu tìm lại chỗ Bản Lai Tự Tánh, chứng quả vô sanh bất diệt nơi cõi trường tồn. . .
-
Trong quá trình tu học và truyền bá nền đạo, người tín hữu Cao Đài cần nắm vững những đặc điểm của tôn giáo mình để cũng cố đức tin đồng thời giải đáp chuẩn xác sự tìm hiểu của mọi giới.
-
Bài Tổng luận trích quyển "TÌM HIỂU TÔN GIÁO CAO ĐÀI" do CQPTGL xuất bản năm 2009, tái bản 2013
-
Trí và Thức là hai lãnh vực mà có nhiều người học đạo chưa phân biệt được rõ ràng. Thực là một điều đáng tiếc.
Có bài thơ như vầy trong kinh Đạo Giáo :
Học Đạo chi nhơn bất ngộ chơn,
Chỉ vị tùng tiền nhận Thức thần.
Vô lượng kiếp lai sanh tử bổn,
Si nhơn hoán tác Bổn lai nhơn.
Nghĩa là :
Học Đạo lắm người hay hiểu sai,
Chỉ vị nhìn lộn Thức thần hoài.
Vô ngằn kiếp số gây sanh tử,
Mà kẻ ngu si tưởng Bổn lai.
Trong bài thơ nầy, người ta đối chọi hai chữ Thức thần và tánh Bổn lai. Thức thần nói tắt là Thức, còn tánh Bổn lai tức là Trí. Đó là hai chữ mà hôm nay chúng tôi muốn đem ra luận giải cùng quý vị.
-
Tu hành giải thoát là phải tìm cách khế hiệp với Bổn thể.
Để nêu cái tông chỉ vừa nói trên đó cho thiên hạ đặng biết, tôi có viết một đôi liển gắn nơi cửa ngỏ chùa Tam-Tông-Miếu như vầy :
Sắc tiền bất sắc, tâm phương tịch,
Không lý phi không, tánh thỉ tinh.
Đó là nói ngay vào cái tâm Bổn-thể của chúng sanh là bất sắc (tức là không) và phi không (tức là có), mà xin đừng chấp có, chấp không theo thế tục, mới là mong vào con đường trung đạo để hiệp với tâm Bổn-thể của Trời-đất.
Tam giáo đồng nguyên nghĩa là : cũng đồng dựa vào một cái gốc lớn nầy. Tam giáo in nhau cũng là giống nhau ở một chỗ đó.
-
Đề tài : Đề cao tình thương và lòng mến đạo
Thánh Thất Bình Hòa, Tuất thời rằm tháng 9 Đinh Mùi (18-10-67)
-
Ngoài cuốn ĐẠO ĐỨC KINH, Đức còn để lại cho đời nhiều cuốn kinh khác :
KINH CẢM ỨNG dạy về lẽ lành dữ trả vay,
KINH THANH TỊNH dạy về phép tu luyện vô vi, và
KINH HUỲNH ĐÌNH, bộ kinh cao hơn hết trong Đạo giáo.
-
"Dầu tôn giáo nào cũng đều giáo dân vi thiện, đều áp dụng giới luật quy điều, trì tâm tu kỷ. Tuy trên hình thức có vẻ đặc biệt, nhưng suy kỹ thì đó là nếp sống của con người hiền thánh, tiên phật. Bởi vì thế gian là cõi tạm; mọi cái hữu hình được hiện bày trên thế gian do vạn vật hóa sanh theo đức háo sanh của Tạo Hóa. Tất cả những hình tướng vạn hữu đều do cơ vi luân động của Đạo mầu mà luân chuyển trường tồn, sanh sanh hóa hóa. Những hình thái biến hiện muôn màu, những hương thơm tho, những ánh sáng chan hòa đẹp đẽ làm cho tâm hồn nhơn loại ưa thích mến chuộng, theo đuổi và say sưa đến nỗi quên mất tánh lành vốn cũ, chất phác hồn nhiên, gây nhiều tội nghiệp trái oan, để tiến mãi trong vòng thiên luân vô định.
-
SƠ LƯỢC về HUYỀN BÚT CƠ trong ĐĐTKPĐ.
Tý thời 14 rạng 15 tháng 3 Mậu Thân 1968, một buổi đàn cơ đặc biệt được tiến hành tại Tam Giáo Điện Minh Tân, bến Vân Đồn quận tư Sài Gòn. Đặc biệt, là do bởi đàn cơ nầy được thực hiện không theo phương cách và hình thức cầu cơ thông dụng của Cao Đài Giáo: dùng đồng tử thủ Đại Ngọc Cơ để Ơn Trên giáng điển viết chữ cho độc giã đọc hoặc cho đồng tử xuất khẫu. Trái lại trong buổi đàn cơ nầy, các đấng Thiêng Liêng dùng huyền linh điển làm cho một ngòi bút nhỏ được treo bằng một sợi chỉ tự động di chuyển trên một bảng chữ cái tiếng Việt. Ngòi bút di động đến mẫu tự nào thì đọc giả xướng lên cho điển ký ghi lại chữ đó và cứ thế mà ráp vần. Theo tài liệu còn lưu lại, số người dự buổi đàn đặc biệt đêm hôm đó gồm: bộ phận hành sự Huyền Cơ, bộ phận Hiệp Thiên Đài và nam nữ đạo hữu, tất cả là 106 vị.
-
Nhân ngày mùng chín tháng Giêng là Khánh Đản của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế, là Thầy, là Đại Từ Phụ, chúng tôi xin phép Thầy nêu lên hai chữ Đắc Nhứt tức là được Một, vì được Một là được tất caû[1], được Đắc Đạo, được hiệp Nhứt với Thầy, Đại Từ Phụ, là mục đích tối hậu của người chơn tu mộ Đạo thuần thành đạo đức.
Nhạc và lời: Trần Bửu Long
Con có người bạn biết bay là tiếng chuông tiếng chuông tiếng chuông ở trong thánh đường. Khi con đọc kinh tiếng chuông chìa đôi cánh chở con thăm thiên đường. Gió lồng lộng bên tai ngắm Phật ngắm Tiên không muốn quay trở về.
Nhạc và lời: TRẦN BỬU LONG
Vui hát trong câu ca là la la la. Đôi bướm vui tung tăng lượn trong muôn hoa. Đường về Đài Cao đường chung của muôn nhà. Mình cùng vang ca quên mất đường xa.
Nâng bước chân em đi đường xa xa ơi. Vang tiếng vang em ca về trao muôn nơi. Ngày này học Đạo Cao ngày sau sẽ giúp đời. Chờ bình minh lên tung cánh ngàn khơi.
Nhạc và lời: Thiện Quang
Dưới bóng cờ Đại Đạo, một bóng cờ Đại Đạo,
Là Việt nam, ta chung dòng máu; Nam Bắc Trung, chỉ một Đài Cao.
Đem đạo ra chúng sinh, Một non sông một nghĩa tình,
Cao Đài vẫn chung gia đình, Về đây với màu áo trắng;
Chung cùng một ước mơ, Một tâm tư một bóng cờ,
Cao Đài quyết tâm phụng thờ, Kỳ ba nhân thế mong chờ.
Hò lơ hó lơ hó lơ.
Sáng muôn phương! Ánh đạo quê hương!
Chợt nhớ bao người trải nắng dầm sương
dâng hiến cuộc đời để cờ cứu độ tung bay,
đất nước ngàn năm vọng vang tiếng kinh Cao Đài.
Đạo gốc bởi nơi tấm lòng tín thành hiệp hòa,
Dẫu nắng dẫu mưa đức tin càng thêm thiết tha,
Khí phách Tiền giang như Thái sơn một thời khai phá,
Áo trắng Hậu giang như mây trời vạn thuở không nhòa.
Rực sáng khắp trời Đông, Ánh Đạo từ đất Lạc Long,
Trăm năm khéo bận lòng, Thế gian là sắc là không;
Tâm chí đại đồng cũng là tấm tình non sông,
Cứu thế kỳ ba hạ nguơn xứng danh Tiên Rồng.
Ôi non linh nước thiêng, Chừ ai con Rồng cháu Tiên,
Kỳ ba chấn hưng chân truyền, Cho hiển vinh ngàn năm văn hiến;
Đây Trung Châu núi sông, Trường Sơn bên bờ biển Đông,
Trời Nam đắp xây đại đồng, Để năm châu cùng hưởng ân hồng.
Khoan hỡi khoan khoan hò.
Có ai về, ai về miền Trung nước tôi,
Để nghe câu kinh tứ thời núi sông bồi hồi.
Cờ Đạo in bóng trong lòng đất,
cờ Đạo in bóng trong hồn nước,
Để xây thánh đường, ngôi thánh đường nội tâm thế nhân.
Đem thương yêu đắp xây nhân hòa,
đem trung kiên đắp xây bửu tòa,
Cho Đông Tây Bắc Nam chung tình,
Cho năm châu, bốn phương thái bình,
Ôi Việt nam gấm hoa, Này Nam quan này Bắc hà,
Dốc lòng phát huy đạo nhà, Kỳ ba dưới đại ân xá;
Khai nguồn mạch Thánh Tâm, Kìa Giao Châu Đạo khởi mầm, Kiếp người nổi trôi thăng trầm, Trời đêm thắp ánh trăng rằm.
Tuyết sương đã phủ đầu non, sương tuyết đầu non (ối a đầu non); Hiên tây gió lạnh từng cơn, bóng trăng đã tròn (ối a trăng tròn);
Thế trần giữa thời Hạ nguơn, muôn lối ngược xuôi biết đâu dại khôn? Ngọc Kinh ai nhớ lối về, lối về cung son (ối a cung son).
Bước chân sứ mạng đường xa, chân bước đường xa (ối a đường xa); Thương nhau, gắng lòng cùng nhau đắp xây nhân hòa (ối a nhân hoà);
Bóng cờ cứu độ kỳ ba đưa bước vạn linh đến bên Trời Cha; Dụng cơ thánh đức thái hòa, trẩy hội Long Hoa (ối a Long Hoa).
Chung nhau muôn cánh tay, Đài Cao ta cùng đắp xây,
Việt Nam sáng danh đạo Thầy, Giương khắp nơi ngọn cờ nhân ái;
Bao la trên ngũ châu, Dù Đông Tây dù Á Âu,
Tình thương trải ra hoàn cầu, Để nhân tâm rực ánh đạo mầu.
Dưới bóng cờ Đại Đạo, một bóng cờ Đại Đạo,
Đường kỳ ba quy nguyên tam giáo,
hiệp ngũ chi chung một Đài Cao.
Dưới bóng cờ Đại Đạo, một bóng cờ Đại Đạo,
Cả quê hương chung màu áo, cả nhân loại cùng Đài Cao;
Cả quê hương chung màu áo, cả nhân loại cùng Đài Cao; nhân loại cùng Đài Cao.
Nhạc và lời: Võ Thành Văn (1985)
Tuổi xuân ơi, nhiệt huyết đang dâng trào,
vì ngày mai, hãy đứng bên nhau,
Dù nơi đâu, tuổi xuân khắp năm châu,
xin bắt chung nhịp cầu, hàn gắn tình nhân loại.
Đến với nhau, vượt trùng khơi ngăn cách.
Xóa tan biên cương, vượt qua muôn oán thù.
Kết liên lòng người, này tình thương Chí Tôn,
Mang đi muôn phương, sưởi ấm muôn tâm hồn.
Bạn tôi ơi, ta là nhân loại!
Vàng, đen, trắng, vẫn anh em cùng Cha.
Nào, chung tay xây dựng nhân hòa!
Cùng thế giới, là cùng mái nhà.
Bạn năm châu, đâu còn xa lạ.
Ngàn ngôn ngữ, hãy ca chung bài ca.
Tuổi xuân ơi, gió lộng chân trời
Bắt tay nhau đi, tình bạn đón mời.
Trên đường dài con đi, muôn ngàn hoa nở rộ.
Trên đường dài con đi, Thiên thần du dương hát.
Mẹ ơi Mẹ, Mẹ dẫn bước con đi.
Mẹ ơi Mẹ, Mẹ tiếp sức con đi.
Cây trên rừng, có bao nhiêu lá, Mẹ thương con kể đã nhiều hơn. Nước trên nguồn, chảy bao nhiêu giọt, hồng ân Mẹ nhiều hơn.
Con xin cúi đầu trước tình thương bao la của Đức Mẹ kính yêu. Con xin làm giọt tình thương trong mắt Mẹ - đại dương.
Ca sĩ:Trọng Nghĩa
Hò ơi... Gặp mối chơn truyền, đời có mấy người đâu.
Sương trắng mái đầu, thời gian như bóng câu.
Tháng năm chẳng chờ, những ai hững hờ.
Long Hoa vẫn mở khoa kỳ nơi thế gian.
....
Đã mang nợ non sông, há đi về tay không?
Chút cơ nghiệp Tiên Rồng, đạo Trời in bóng... hò ơi, Điểm tô tòa Cao Đài, để dân Việt nhớ hoài, sứ mạng độ nhân loài.
Màu vàng, màu xanh, màu đỏ - ngọn cờ Đại Đạo Cao Đài.
Giữa bầu trời cao lộng gió, lá cờ tung bay, tung bay.
Màu vàng là màu Phật giáo.
Màu xanh là màu đạo Tiên,
Màu đỏ là màu Nho giáo,
Cả ba màu Tam giáo quy nguyên.
"Non linh đất thánh trời xuân,
Đường trần bao dấu chơn quân lạc loài;
Lộc Trời đã giữ trong tay,
Đạo Trời vun quén ngày ngày cho xinh."
Đức Lý Giáo Tông Vô Vi Đại Đạo, Minh Đức Tu Viện, Tuất thời, 25-01 Giáp Dần (16-2-1974)
