Thống Kê Newsletter
Lần đầu đến với Nhịp Cầu Giáo Lý?

Những liên kết dưới đây có thể hữu ích với bạn.

 
Có thể bạn chưa xem qua
  • Công phu / Chí Thật

    Đức Đông Phương Lão Tổ dạy:

    Công phu là để tâm an định,

    Nên đạo nên người chốn thế gian.

    (CQPTGLĐĐ, 04-6 Tân Dậu, 05-7-1981)

    "Tâm an định"là kết quả của hành giả trong suốt quá trình thực hành công phu luyện kỷ. Kết quả đó được ứng dụng trong đời sống nhân sinh, thực hiện sứ mạng vi nhân xử thế đúng thời hợp đạo, song song đó là tá trợ với các Đấng trong công cuộc hoằng dương chánh pháp Đại Đạo, hầu tái tạo cõi dinh hoàn Thượng ngươn Thánh đức, thiên hạ thái bình, lạc nghiệp âu ca, được sống trong cảnh trời Nghiêu đất Thuấn, nhà ngủ không đóng cửa, ngoài đường của rơi không ai lượm… được như thế là chúng ta thực hành đúng tôn ý của Đức Tôn Sư Đông Phương Lão Tổ: "Nên đạo nên người chốn thế gian".


    Từ lúc khai Đạo cho đến ngày nay có hai hình thức công phu phổ biến trong đạo Cao Đài đó là cúng và tịnh (thiền định).


  • Kiếp người / Đức Bát Nhã Thiền Sư & Đức Quan Thế Âm Bồ Tát

    Đức Bát Nhã Thiền Sư & Đức Quan Thế Âm Bồ Tát dạy tại Minh Lý Thánh Hội & Huờn Cung Đàn, năm 1974 và 1965


  • Quan điểm
    MỖI NGƯỜI CHÚNG TA ĐÓNG GÓP ĐƯỢC GÌ CHO NHÂN LOẠI?

    Một nhà tư vấn chính sách , Simon Anholt, mới đây đã thực hiện một bảng thống kê gọi là “Good Country Index” (1) để đánh giá khả năng đóng góp cho nhân loại dựa theo thông tin của Liên Hiệp Quốc và World Bank. “Good Country Index” phân tích đóng góp của 125 nước trên các mặt khoa học công nghệ, văn hóa, hòa bình và an ninh quốc tế, trật tự thế giới, khí hậu, thịnh vượng, bình đẳng, sức khỏe. . .
    Điều chúng ta lưu ý ở đây, bản thống kê đã cảnh báo là Việt Nam là nước có mức “đóng góp cho nhân loại” được xếp hạng áp chót, chỉ trên Libya (tức 124/125).
    Đánh giá nêu trên, trước khi nêu lên những lý do khách quan này khác, khiến mỗi người Việt Nam chúng ta sẽ tự hỏi, cá nhân mình và dân tộc mình có thể đóng góp được gì cho nhân loại, hay vì ta không hề đóng góp nên có kết quả như thế?


  • Không thầy đố mày làm nên,
    Công danh gặp bước chớ quên ơn thầy.
    Yêu kính thầy mới làm thầy,
    Những phường bội bạc sau này ra chi.


  • Thanh Tĩnh Kinh / Lê Anh Minh dịch và phụ chú

    清 靜經
    Thanh Tĩnh Kinh

    ● Lê Anh Minh dịch & chú thích

    Kinh này có tên gọi đầy đủ là «Thái Thượng Lão Quân Thuyết Thường Thanh Tĩnh Kinh» 太上老君說常清靜經, còn có tên là  «Thái Thượng Hỗn Nguyên Thượng Đức Hoàng Đế Thuyết Thường Thanh Tĩnh Kinh» 太上混元上德皇帝說常清靜經, «Thường Thanh Tĩnh Kinh» 常清靜經, hay «Thanh Tĩnh Kinh» 清靜經. Nội dung của kinh là giải thích sự diệu dụng của thanh tĩnh. Để đạt sự thanh tĩnh thì người tu phải «tam quán»: nội quán (nhìn vào trong), ngoại quán (nhìn ra ngoài), và viễn quán (nhìn ra xa). Tam quán để thấy vạn vật đều là không; tức là «trừng tâm» (làm trong sạch tâm) để diệt trừ vọng tâm, diệt trừ phiền não.

    Tác giả của bản kinh này chưa rõ là ai. Có thuyết cho rằng đó là Cát Huyền 葛玄 (164-244); có thuyết cho rằng tác giả là một đạo sĩ ẩn danh, sống vào đời Đường (618-907) hoặc Ngũ Đại (907-1279). Bản kinh này (có lời chú của Thuỷ Tinh Tử 水精子) đã được đưa vào «Chính Thống Đạo Tạng» 正統道藏. Đây là bản kinh được giới Đạo sĩ rất xem trọng. Giáo phái Thanh Tĩnh Phái 清靜派 của Toàn Chân Đạo 全真道 quy định đây là bản kinh nhật tụng của đạo sĩ bản môn, nên bản kinh được lưu hành rất rộng và có nhiều bản chú thích của các nhà như: Đỗ Quang Đình 杜光庭, Thuỷ Tinh Tử 水精子, Hỗn Nhiên Tử 混然子, Hầu Thiện Uyên 侯善淵, L‎‎ý Đạo Thuần 李道純.●


  • Đất nước Việt Nam với dòng giống Rồng Tiên đã sản sinh ra biết bao anh hùng dân tộc hằng lưu lại những sự nghiệp vật chất và tinh thần rất hào hùng, vẻ vang cho hậu thế noi theo cùng thừa hưởng. Là con dân nước Việt, cùng với niềm tự hào trước những thành quả to lớn của ông cha để lại, chúng ta có bổn phận phải nuôi dưỡng , bảo vệ, giữ gìn tinh thần truyền thống cao đẹp đó.
    Trong suốt chiều dài lịch sử, trải qua các triều đại Đinh Lê Lý Trần .v.v… có thể nói triều đại nhà Lý đã để lại những dấu ấn lịch sử sâu đậm, mở ra một thời kỳ vẻ vang cho dân tộc Việt, là một bước tiến mới rất quan trọng của tiến trình dựng nước và giữ nước, với những quyết định đúng đắn của các vị minh quân, cũng như những sự giúp đỡ đắc lực của những vị trung thần trung quân ái quốc và xứng đáng với mỹ từ “Việt Nam văn hiến ngàn năm”.


  • Thâu nhận sanh linh theo thiên thơ / Đạt Tường sưu tầm

    Kỷ niệm 80 năm hoàn tất một giai đoạn lịch sử độc đáo nhứt trong thời Tam Kỳ Phổ Độ: "Cơ Bút thâu nhận sanh linh (…) theo Thiên thơ".

    Tám mươi năm trước đây, vào ngày mùng 1 tháng 7 Đinh Mão (1927), Đức Chí Tôn giáng đàn ở Tòa Thánh Tây Ninh ban ân lần cuối cùng và chấm dứt hoàn toàn hình thức thâu nhận người nhập môn qua những buổi đàn cơ. Sau ngày đó, thống nhất áp dụng cho mọi thánh thất đều phải tùng theo Tân Luật.


  • “Tam Kỳ Phổ Độ là một giai đoạn quan trọng trên lịch sử diễn tiến của nhân loại trong kỳ Hạ Nguơn. Đây là thời kỳ có một không hai trong quá trình tiến hóa tâm linh nhân loại.

    Vì được diễm phúc hồng ân lớn lao duy nhất Thượng Đế giáng trần lập đạo cứu độ và tận độ nhân loại cũng đang thời kỳ tiến đến mạt kiếp, ác nghiệp chồng chất bao đời cũng đang đến hồi tác động với muôn vàn tai họa khủng khiếp.

    Sự chênh lệch cách xa, một bên trí năng phát minh khoa học, và một bên đạo đức lương tri tạo nên tai họa khủng hoảng mờ mịt không lối thoát”.[1]


  • I. XUẤT XỨ CÂU KINH
    II.TÌM HIỂU Ý NGHĨA
    1. Chữ Hiệp
    2. Chữ Thành
    3. Chữ Tín
    III. KẾT LUẬN


  • Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (ĐĐTKPĐ) hay đạo Cao Đài khai minh vào đầu thế kỷ 20 tại Việt Nam đã mở ra một kỷ nguyên cứu độ mới và là một sự kiện vô cùng trọng đại và hy hữu trong lịch sử nhân loại từ khai thiên lập địa đến nay trên quả địa cầu nầy. ĐĐTKPĐ xuất hiện trong bối cảnh cuối thời Hạ nguơn Mạt kiếp, nhân loại ngày càng tiến bộ vượt bực về mặt trí năng nhưng ngày càng mờ nhạt về mặt tâm linh.


  • Ngài Cao Quỳnh Cư tự là Bội Ngọc, sinh năm Mậu Tý 1888 tại làng Hiệp Ninh, tổng Hàm Ninh Thượng, tỉnh Tây Ninh. Thân phụ Ngài là cụ ông Cao Quỳnh Tuân (1844-1896) từ trần ngày 4-11-Bính Thân. Thân mẫu của Ngài là cụ bà Trịnh Thị Huệ (1853-1946), liễu đạo ngày 25-9-Bính Tuất (1946). Trong gia đình, Ngài Cao Quỳnh Diêu là con thứ ba, Ngài Cao Quỳnh Cư thứ tư (người thứ hai mất sớm).


  • Thánh giáo dạy người hướng đạo chơn tu phải phát huy tiềm lực sâu thẳm mới đạt được những thành tựu công trình đúng theo Thánh ý Thiên cơ.
    Tiềm lực là nguồn năng lượng hay sức mạnh ẩn tàng bên trong, không phải là động năng của những hành vi đối phó các sự việc thông thường trên đường hành đạo. Nó rất sâu thẳm nên hành giả phải dụng công khơi dây. Ví như viên ngọc tuyệt mỹ dưới đáy biển, người sưu tầm phải chịu khó nhọc đem bí quyết kình ngư lặn lội nhiều phen mới phát hiện. được.














    Là môn đệ Cao Đài Thượng Đế,
    Phải dặn lòng phước huệ song tu,
    Ấy là công quả công phu,
    Thương người mến vật vận trù nội tâm.

    Đức Giáo Tông Đại Đạo, CQPTGL, 29 tháng Chạp Mậu Ngọ

    Chúng tôi rất hoan nghênh và sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp của bạn để phát triển Nhịp Cầu Giáo Lý ngày một tốt hơn.


    Hãy gửi góp ý của bạn tại đây